Sáng còn đang nướng, bỗng nghe, "Bánh mì nóng giòn đây". Tiếng rao quá lâu rồi không được nghe bỗng đánh thức tất cả mọi giác quan. Phóng xuống giường chạy chân đất ra ban công.
Thursday, September 30, 2021
SÀI GÒN NGÀY MỞ CỬA
Saturday, August 28, 2021
THỜI ĐIỂM (Paṭhamasamayasutta)
Bản tiếng Việt dịch là “Các thời gian”, nhưng theo trong nội dung thì
mình phải sửa lại là kinh Thời Điểm. Cái tựa Thời Điểm rõ nghĩa hơn, chữ ‘samaya’ có nhiều nghĩa, nhưng ở đây có
nghĩa là thời điểm.
“Rồi một
Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi
xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn: Có bao nhiêu thời gian để đi đến yết kiến
Tỷ-kheo đã được tu tập về ý? Có sáu thời gian, này Tỷ-kheo, để đi đến yết
kiến Tỷ-kheo đã được tu tập về ý. Thế nào là sáu?”
‘Cittabhāvanā’: tu tâm;
‘Manobhāvanā’: tu ý (cũng có thể dịch
là ‘tu tâm’, cũng không sai).
Đức Phật dạy có những thời điểm thích hợp cần thiết cho cái chuyện mình
đi đến gặp gỡ một người đã tu tập thành mãn, tu tập tới nơi tới chốn.
Quí vị có còn nhớ bài kinh Maṅgalasutta? Trong kinh đó có hai chỗ cần lưu
ý cho bài kinh đang học, đó là “kālena dhammassavana” (tùy thời nghe pháp)
hoặc là “kālena dhammasakaccha” (tùy thời đàm luận giáo lý). Rất
nhiều người không hiểu chữ ‘kālena’ (tùy thời) nghĩa là sao. Trong kinh này Đức
Phật giải thích:
Trong đời sống, chúng ta rất cần đến sự hỗ trợ từ người khác, đặc biệt là
các vị minh sư thiện hữu, chứ chúng ta không thể nào tu một mình. Có sáu thời
điểm thích hợp để chúng ta tìm đến học hỏi thỉnh ý với một vị đã tu tập đó là:
Khi tâm ta bị ảnh hưởng, bị tác động, chi phối bởi năm Triền cái thì đó
chính là thời điểm nên tìm đến vị đã có chiều dày tu tập.
Nếu đang vô sự thì thôi, còn nếu có một trong năm triền cái xuất hiện thì
đó chính là thời điểm nên tìm tới vị ấy. Đương nhiên là chúng ta không cần thiết
phải làm chuyện đó nếu chúng ta tự có khả năng dàn xếp giải quyết. Nhưng sở dĩ
Ngài nhắc như vậy bởi có nhiều người khi có phiền não gì đó hoành hành chi phối
tác động thì họ cứ ngồi gồng và chịu đựng. Đây là chuyện rất là không nên. Bởi
vì có những trường hợp chúng ta đối diện với nó rồi giải quyết nó, mọi chuyện
coi như suôn sẻ. Nhưng cũng có trường hợp chúng ta không có khả năng đó, chúng
ta cần đến sự hỗ trợ của thầy bạn.
Chúng ta không nên tụ tập họp mặt một
cách vô nghĩa vô ích. Chúng ta chỉ nên tìm đến với ai đó với một
ý nghĩa thật sự là cần thiết, với một lý do một mục đích đàng hoàng cho chuyện
tu tập, chứ chúng ta không thể tụ năm tụ ba tìm nhau để giải khuây, để tìm vui,
để bớt buồn, để khuây khỏa.
Khi tìm đến thầy và bạn trong những
thời điểm đó thì sự hỗ trợ của thầy bạn mới thật sự có ý nghĩa, có hiệu quả.
Ví dụ như mình biết vị đó giỏi, có điều kiện thì mình cũng nên lui tới gặp
gỡ, nhưng có nhiều trường hợp cái tâm của chúng ta chưa sẵn sàng đón nhận gặp
thì gặp vậy thôi chứ chúng ta không học được nhiều. Điều quan trọng là khi
chúng ta gặp phải vấn đề, gặp phải sự cố trong tu học, thì sự gặp gỡ ấy mới thật
sự có hiệu quả, có ý nghĩa.
Chẳng hạn mình đang ngồi thiền, mình nghe có một vị danh tăng hay thiền
sư nào đến, có thể mình tới đảnh lễ, nhưng ý nghĩa hơn là mình vẫn tiếp tục sống
chánh niệm với một mình mình. Mình chỉ nên gặp khi nào việc đó là thật sự cần
thiết, thật sự hỗ trợ cái gì đó cho chuyện tu học. Có rất nhiều người sẵn sàng
bỏ hết miễn là gặp gỡ được một người nổi tiếng, gặp gỡ một danh nhân, một danh
tăng. Theo tôi đó không phải là chuyện cần thiết. Đối với một hành giả Tứ Niệm Xứ
thứ thiệt chỉ có chánh niệm là chuyện lớn, chỉ có tu tập là chuyện lớn, ngoài
ra gì cũng là nhỏ hết. Đó mới gọi là một hành giả miên mật, một hành giả tinh tấn
chuyên cần. Bài kinh này có nhiều ý nghĩa mà mình phải lưu ý.
(1) Khi bị
dục tham chi phối
Khi nào mình bị dục tham chi phối, chi phối đến mức độ tự mình không thể
giải tỏa được là mình phải tìm đến minh sư thiện hữu để được họ dạy cho những đề
mục cần thiết. Chú giải ghi rất rõ, ví dụ như đang bị nặng lòng với tham dục
(tình cảm nam nữ, nhu cầu vật chất, ái luyến xác thân) thì nên tu tập, nên được
nghe nhiều về đề mục bất mỹ bất tịnh. Quán bất mỹ bất tịnh là tu hai đề mục:
xác sống và xác chết. Xác sống là 32 thể trược, còn xác chết là các giai đoạn
phân hủy của một tử thi. Thân mình chỉ là cái xác mà thôi. Đó là lý do tại sao trong
trường hợp gọi chung một con người không xác định thì người Mỹ gọi là body, anybody, everybody. Con người đầu
tiên chỉ là cái xác mà thôi, còn cái tinh thần thằng xấu thằng tốt thằng trí thằng
ngu thằng dốt hay thằng giỏi thì chưa biết. Con người đầu tiên chỉ là cái xác
cái đã. Quán đề mục bất mỹ bất tịnh là chúng ta quán về bản chất của xác sống
và xác chết:
- Ngay khi cái thân này còn chưa chết thì nó đã là cái khối bất tịnh (tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân,
xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng,
phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước
ở khớp xương, nước tiểu). Ngay khi còn sống, cái da là cái bọc bên ngoài được
mình tắm rửa tô trét phấn son, nước hoa mỹ phẩm xà phòng, còn bên trong là một
đống bất tịnh mà chính mình còn gớm của mình thì nói chi là người khác. Quán bản
chất của xác sống là có lòng nhờm gớm như vậy đối với cái thân này khi còn sống.
- Còn quán niệm về xác chết là cái thân này dầu có đẹp cách mấy thì khi tắt
thở rồi nó phải trải qua các giai đoạn phân hủy từ sình trương, biến sắc, đổi
màu, chảy nước, rã rời, và cuối cùng trở thành bộ xương trắng. Tệ hơn nữa là
phân hủy thành một nhúm bột mà thôi. Khi mình thường trực sống trong tâm niệm
như vậy thì đối với tất cả các tham ái liên hệ tới dục (ví dụ như tình cảm nam
nữ, nhu cầu vật chất, ăn ngon mặc đẹp v.v...) sẽ đình chỉ. Có nhiều khi mình biết
như vậy nhưng lúc nó trỗi dậy mãnh liệt thì mình cũng phải tìm đến thầy bạn.
Tôi biết có những người họ bị những chuyện nghe rất là nhẹ nhưng lại nặng
đối với họ. Chẳng hạn như chuyện ăn uống, cơ thể của họ có nhu cầu lạ lắm, đến
giờ không ăn là chịu không nổi. Mình tưởng lầm đó là nhu cầu sinh học, nhưng thật
ra phần lớn là do cái tâm của mình. Có trường hợp nữa là họ chỉ nghe cái mùi
đó, nhắc cái tên của thực phẩm đó là họ đã ngồi thiền không được, ví dụ họ
thích bánh xèo, họ thích sầu riêng, họ thích ăn món đặc biệt nào đó, khi nghe
nhắc tới hay nghe mùi là họ chịu không nổi. Trong những trường hợp đó cũng rất
là nên gặp thầy bạn để hỏi, hỏi bằng cách nào để mình không còn tiếp tục lệ thuộc
vào chuyện ăn uống nữa.
(2) Khi bị
sân tâm chi phối
Khi mình tự xét thấy sao lúc này mình nóng tánh quá, hoặc từ nhỏ đến giờ
mình nóng tánh quá, mình không thể tu hành với một nội tâm luôn luôn sôi sục
như vậy; nếu tự mình học giáo lý, tự mình tu tập chánh niệm mà mình vượt qua được,
mình giải quyết giải tỏa được lấn cấn đó thì tốt. Nếu không thì tìm đến thầy bạn
để họ hỗ trợ cho mình
Về mặt lý thuyết ai cũng tưởng mình biết, thì cứ tu tâm từ thôi! Nhưng
không đơn giản như vậy đâu quý vị. Cũng lý thuyết đó nhưng mình được nghe thầy
bạn nhắc lại từ miệng của họ chứ không phải là từ cái nhận thức của mình thì
mình sẽ có được những thay đổi lớn hơn là tự mình ngồi gồng, tự giải quyết vấn
đề với riêng mình. Có những chuyện tôi biết nhưng tôi phải được nghe người khác
nói thì mới ép phê. Ví dụ ai cũng biết tập thể dục là tốt, ai cũng biết ăn rau
trái là tốt, bớt dầu mỡ chiên xào là tốt… nhưng khi nghe nhiều người cứ nhắc đi
nhắc lại thì mình mới thay đổi chế độ ăn uống, chế độ sinh hoạt. Chứ còn mình
chỉ sống thuần túy bằng cái biết của riêng mình, sống quanh năm trong bốn bức
tường với riêng mình thì coi như là mình khó mà có được những thành tựu. Trong
khi đó chỉ cần nghe người ta nhắc lại thôi.
Vì vậy, khi tỳ kheo bị sân tâm chi phối (sân ở đây không chỉ riêng chuyện
hờn giận căm ghét ai đó, mà sân ở đây là bất mãn trong năm dục, tức là bực bội
người, cảnh, vật, chuyện này chuyện nọ) thì đề mục được gợi ý thường nhất là tu
tập từ tâm. Và chúng ta cũng phải biết chuyện này, tôi cho rằng quí vị phải ghi
lại cái này, đó là, khi nói đến chuyện đối phó tham dục thì trong kinh thường Đức
Phật nhắc đến đề mục bất tịnh. Không phải đối phó với dục tham là chỉ có đề mục
bất tịnh bất mỹ. Đây là những đề mục được Ngài gợi ý vì Ngài nhắm tới những đối
tượng phổ thông phổ biến phổ cập chứ đây không phải là giải pháp duy nhất để giải
quyết. Để đối phó với phiền não với năm triền cái, với tham dục, với bất mãn
trong năm dục, với hôn thụy thì không chỉ có một cách. Ví dụ như một người chỉ
có tu tập đề mục hơi thở, biết rõ hơi thở vào ra, biết rõ mình thở ra ngắn hay
dài, biết rõ mình thở vào ra với cảm xúc gì, biết rõ mình thở vào ra với tâm trạng
gì thì họ chỉ chuyên tâm đề mục đó, họ hoàn toàn có thể đối phó với năm triền,
hoàn toàn có thể chấm dứt trăm phần trăm phiền não mà không mắc mớ gì tới từ tâm, không mắc mớ gì tới mấy chục đề
mục bất tịnh bất mỹ hết.
Nhiều người không học kỹ cứ tưởng đối với tham dục, đối với niệm đam mê
trong năm dục thì mình phải niệm bất tịnh bất mỹ, đối với tâm sân thì chỉ có một
cách là tâm từ. Đó là hiểu sai. Bởi vì đó là những đề mục dễ kiếm và dễ hiểu
mang tính gợi ý, mang tính tham khảo thôi. Chứ còn quí vị bắt buộc phải đồng ý
với tôi là có người chỉ tu đề mục bốn niệm xứ, họ không chuyên về từ tâm, nhưng
khi mình chuyên tu Tứ Niệm Xứ thì mình hoàn toàn có thể đè nén, trấn áp, giải tỏa
được sân tâm. Phải tin chuyện đó. Không hề có phút giây nào họ tu tâm từ hết, họ
chỉ chuyên tâm chánh niệm thôi, sân biết là sân, tham biết là tham, thiện biết
là thiện, biết rõ tâm tư cảm xúc của mình. Chuyên tâm chánh niệm thì tự nhiên
những cái đó cũng lắng xuống.
Sáu đề mục được nhắc đến trong đây là những đề mục mang tính gợi ý cho những
trường hợp phổ biến. Nhiều người sơ cơ không biết đạo đọc vô kinh này họ hơi
khó chịu, bởi họ thấy đang giận như điên mà bắt rải tâm từ sao rải nổi. Chính bản
thân tôi cũng vậy, khi tôi đang nổi điên lên, tôi đang giận đang phiền đang buồn
chuyện gì đó mà bắt tôi rải tâm từ tôi rải không được nhưng tôi niệm đề mục chết
thì lại hết. Trong kinh cũng xác định như vậy. Chính quý vị cũng có thể kiểm chứng.
Bất-cứ-đề mục-nào trong bốn niệm xứ cũng đều có thể giúp ta trấn áp và dứt điểm
tuyệt đối phiền não, chỉ tùy mình tu ở mức nào thôi. Chứ không phải cứ là tu
tâm từ để diệt tâm sân, tu bất mỹ bất tịnh để diệt tham dục. Đó chỉ là gợi ý
cho những trường hợp phổ biến. Chứ cứ học bài bản kiểu vỡ lòng rồi đi cãi chày
cãi cối thì phiền lắm. Người mình hay bị bệnh đó nặng lắm, không biết thì cãi
theo kiểu dốt, hoặc mặc cảm tự ti tôi không biết gì, tới hồi biết ba mớ thì coi
cái biết của mình là toàn bộ vũ trụ và chính mình là cái rốn của vũ trụ. Vậy là
chết rồi. Hơn nữa, kinh nói như vậy nhưng mình phải động não suy tư xem có hợp
lý hay không.
Như vậy khi nào vị tỳ kheo bị lòng bất mãn chi phối thì có đề mục gợi ý
đó là nên tu từ tâm.
Khi có tín, tấn, niệm, định, tuệ
thì tự nhiên mình có hướng giải tỏa khi các phiền não tấn công. Tự nhiên như vậy,
chứ không nhất thiết phải từ tâm mới đối phó với tâm sân. Một người thường trực
sống với trí tuệ và chánh niệm về danh sắc thì tự nhiên khi họ gặp cơ hội cần bố
thí là họ bố thí liền, không cần phải tu từ tâm thì lúc đó mới bố thí. Họ cứ tu
tập niệm xứ một cách miên mật, khi gặp cơ hội bố thí là tự nhiên họ có từ tâm,
có tâm bi để bố thí. Khi chánh niệm và trí tuệ ngon lành rồi thì gặp chuyện cần
nhẫn nại là họ nhẫn nại, cần phải yêu thương thì họ yêu thương, cần tha thứ là
họ tha thứ, cần nhẫn cần xả thì họ làm được liền. Bởi vì với một nội tâm thành
tựu được tín, tấn, niệm, định, tuệ thì thiện pháp
nào cũng có. Tuy nhiên, tùy vào khuynh hướng tâm lý mỗi người mà khả năng thiện
của họ tới đâu. Có những người khi sống chánh niệm, tu tập niệm xứ lâu ngày thì
bất cứ cơ hội nào làm được điều thiện là họ không từ chối. Nhưng có những trường
hợp có những người tu tập niệm xứ lâu ngày họ giữ giới rất tốt, họ phục vụ rất
tốt, nhưng họ bố thí rất là yếu bởi vì bản tánh của họ là bủn xỉn keo kiệt rất
nặng. Cho nên khi họ tu tập ngon lành, thiện pháp nào ở họ cũng phát triển được
nhưng riêng khoản bố thí họ làm không được. Hoặc có những người do tánh cao ngạo
tự đại quá nặng nên khi họ tu tập niệm xứ lâu ngày, thiện pháp nào ở họ cũng tự
nhiên thành tựu, nhưng riêng cái khoản khiêm tốn cung kính người khác thì họ
không có được.
Tất cả các hạnh lành của mình đều có thể tự phát trên nền tảng của chánh
niệm và trí tuệ. Nhưng tùy vào căn cơ của mỗi người mà những thứ thiện pháp tự
phát ấy cái nào mạnh hơn cái nào, cái nào yếu hơn cái nào. Học A-tỳ-đàm kiểu vỡ
lòng thì mình rất dễ bị vướng kẹt, đây là 25 Tâm sở Tịnh hảo, đây là Tín, Niệm,
Tàm, Úy, Vô tham, Vô sân, Hành xả, đây là Vô lượng phần, đây là Giới phần
v.v... mình thấy nó là cái gì đó rất là độc lập. Nhưng thật ra trong thực tế tu
chứng thì nó không máy móc như vậy. Khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần, nếu mình là
một người có nền tảng chánh niệm và trí tuệ thì tự nhiên cái phản ứng của mình
trước sáu trần sẽ mang tính tích cực hơn người không có tu tập. Tích cực nghĩa
là, tự nhiên khi gặp hoàn cảnh cần tâm từ thì tự nhiên tâm mình có khuynh hướng
là thương yêu là bao dung; mình gọi khuynh hướng đó là tâm từ. Khi mình thường
xuyên tu tập Tứ Niệm Xứ thì khi gặp bối cảnh, môi trường, cần phải làm cái chuyện
mà người ta thường làm chuyện bậy thì tự nhiên lúc đó mình không làm chuyện bậy.
Tự mình có đủ tàm úy, tự mình có đủ điều kiện tâm lý để mình tránh, đó được gọi
là Giới phần. Tự nhiên lúc đó có chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng đủ để cho
mình không làm chuyện bậy. Khía cạnh tâm lý lúc mình không làm bậy đó được gọi
là giới phần. Khía cạnh tâm lý lúc mình bao dung thương yêu người khác thì được
gọi là từ tâm. Còn mình cứ khư khư học theo bài học vỡ lòng của con nít, mình
thấy đó là những cái rất riêng biệt, khó tu tập. Thật ra đó là những phản ứng
tâm lý rất tự nhiên của một người sống chánh niệm, cộng với ba-la-mật.
Khi anh có Ba-la-mật ngon lành rồi cộng với Tứ Niệm Xứ ngay trong hiện tại,
gặp chuyện cần có Vô lượng phần là có ngay, gặp chuyện cần có Giới phần là có
ngay, gặp chuyện cần có trí tuệ là có ngay. Đó là lý do vì sao một người cầu đạo
giải thoát phải có ba-la-mật. Khi anh có ba-la-mật đầy đủ cộng với đời sống của
hành giả Tứ Niệm Xứ ngay trong hiện tại thì phản ứng tâm lý của anh trước 6 trần
rất là ngoạn mục, rất là tích cực, rất là hướng thượng. Tu là tu như vậy.
Hôm nay là chúng ta có dịp để nói hơi nhiều về mối tương quan chặt chẽ giữa
kiến thức A-tỳ-đàm và pháp môn Tứ Niệm Xứ (Tuệ Quán). Khi ba-la-mật đầy đủ rồi ngon
lành rồi, cộng với nếp sống hiện tại của mình là một hành giả Tứ Niệm Xứ thì phản
ứng của mình trước sáu trần rất là tích cực. Mỗi khía cạnh tích cực ấy được Đức
Phật gọi tên bằng những mỹ từ như tín, tấn, niệm, định, tuệ, kham nhẫn, hành xả v.v...
(3-4) Khi bị
hôn trầm thụy miên, trạo cử phóng dật chi phối
Hôn thụy: buồn ngủ,
làm biếng.
Các đề mục được nhắc đến trong đây chỉ là những gợi ý mang tính tham khảo
cho những trường hợp phổ biến chớ không phải là duy nhất là tuyệt đối.
Chánh tạng không nói, nhưng trong Chú giải có cho những gợi ý như thế này
và giải thích là Ngài muốn nói như vậy. Tôi thích bài kinh này ở điểm Ngài
không nói rõ cách nào để đối phó tham dục sân hận hết. Những đề mục tôi nói nãy
giờ toàn là Chú giải giải thích kinh này gợi ý như vậy, chứ Đức Phật không nói
sống chết mình phải tu tập đề mục nào để giải quyết phiền não nào. Ngài chỉ nói
chung chung thôi, còn Chú giải thì nói cụ thể:
- Khi bị tham dục
chi phối thì tu tập đề mục bất mỹ bất tịnh trên xác sống xác chết.
- Khi bị sân tâm
thì nên tìm đến vị có tu tập để họ nhắc nhở cho mình pháp môn từ tâm.
- Khi bị buồn ngủ,
lười biếng thì nên tìm đến những vị đã chứng, để được hướng dẫn tu tập đề mục
ánh sáng.
Đề mục ánh
sáng là gì? Hành giả tự mình tự kỷ ám thị rằng tôi đang ngồi giữa ban ngày, tôi
đang ngồi giữa một vùng ánh sáng. Vị đó để mắt để tâm vào một cái đốm sáng, một
ngọn lửa, thay vì niệm lửa thì niệm ánh sáng: “sáng, sáng, sáng, aloka, aloka...”
Hoặc cách thứ hai là tự kỷ ám thị “tôi
đang ngồi giữa trưa nắng ngoài trời trống”. Khi suy niệm như vậy thì vị đó không
buồn ngủ nữa.
Trạo hối (uddhacca-kukkucca)
là hai phiền não phóng dật hối hận cộng chung lại, lăng xăng không tập trung là
trạo cử, hối là lòng ray rứt bất an về những chuyện mình đã làm và không chịu
làm.
(5) Khi bị
hoài nghi chi phối
Hoài nghi: hoang mang nghi hoặc; hoang mang không biết pháp môn này có
đúng không, sư phụ dạy có đúng không, tu tập như vậy có dẫn tới kết quả gì hay
không, người như mình tu hành có đắc gì hay không.
Nhiều vị định nghĩa hoài nghi trong 5 Triền cái mà gắn Tam bảo vô thì
không được. Vì sao, vì muốn đắc được thiền thì anh phải tránh được năm triền
cái. Có những lúc không có Phật ra đời người ta vẫn có đắc thiền. Muốn đắc thiền
thì phải giải quyết được năm triền, trong đó có hoài nghi. Nếu định nghĩa hoài
nghi mà có dính tới Tam bảo thì trong thời kỳ không có chư Phật ra đời người ta
làm sao đắc thiền. Nhiều vị học một cái mẫu định nghĩa hoài nghi là hoài nghi
trong Phật pháp tăng, hoài nghi trong Tam học, hoài nghi trong Bốn Đế, 12 duyên
khởi. Định nghĩa đó rất đúng, nhưng trường hợp nào mình xài định nghĩa đó cho
chữ hoài nghi. Có những trường hợp chúng ta không thể bê nguyên xi định nghĩa
đó áp dụng cho chỗ khác.
Trong Chú giải nói để đối phó với hoài nghi thì tự mình, hoặc nên tìm đến
vị đã có tu chứng để được dạy cho ân đức Tam bảo. Bài kinh này nói đến người
đang sống trong thời kỳ Đức Phật. Trong trường hợp đó người đó phải được học kỹ
hơn về ân đức Tam bảo, đây là những hành giả trong thời kỳ Đức Phật mà thôi.
Còn nếu những hoang mang nghi hoặc của mình mà không liên hệ đến Tam bảo thì
mình phải giải quyết nó theo hướng khác. Ví dụ hoài nghi về sư phụ, hoài nghi về
pháp môn thì bắt buộc mình phải dùng kiến thức giáo lý, coi thử lời dạy của sư
phụ, của cuốn sách đó, lời dạy đó, cái kỹ thuật hành trì đó có đúng với kinh điển
hay không. Phần đó là phần của mình chứ không thể nào đi nhờ người khác được.
(6) Khi tâm
bị vướng kẹt trong năm triền
Sau khi nói đến năm triền cái thì Ngài dạy cái thứ sáu, đó là khi nào tâm
bị vướng kẹt trong năm triền cái thì mình phải tìm đến vị đã đắc chứng, hoặc
đang tu tập (Manobhāvanā: tu tâm tu ý).
“8. Lại nữa, này Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo y
cứ nơi tướng nào, do tác ý tướng ấy, các lậu hoặc được đoạn diệt, không có gián
đoạn, vị ấy không biết, không thấy tướng ấy, trong khi ấy, sau khi đi đến Tỷ-kheo
đã được tu tập về ý, vị ấy cần được nói như sau: "Thưa Hiền giả, y cứ nơi
tướng nào, do tác ý tướng ấy các lậu hoặc được đoạn diệt, không có gián đoạn,
tôi không biết không thấy tướng ấy.”
Chỗ này rất quan trọng, chúng ta không có ba-la-mật, chúng ta lại không
có được nghe chánh pháp, chúng ta không được gặp minh sư thiện hữu đặc biệt là
chư Phật, từ đó, khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần thì chúng ta luôn luôn sống
trong cái ảo: cái này ngọt, cái này đắng.
Chúng ta trốn chạy cái đắng, chúng ta đi tìm kiếm cái ngọt. Chúng ta có những phân
biệt đây là nam, là nữ, là đẹp là xấu, cao thấp, trắng đen dài ngắn trong ngoài…
chúng ta hoàn toàn sống trong chế định, hoàn toàn sống trong tục đế từ vô lượng
kiếp. Những khía cạnh đó chỉ là hiện tượng của các pháp chứ không phải bản chất.
Một người chứng thánh là phải có cái nhìn xuyên thấu bản chất của vạn hữu, đây là danh, đây là sắc, cả danh lẫn sắc đều
do duyên mà có, có rồi phải mất. Đó là thấy được các pháp qua khía cạnh bản
chất.
Chúng ta có hai cách để nhìn về thế giới này: nhìn nó trên lớp vỏ hiện tượng
và nhìn vào bề trong bản chất. Ví dụ, nói theo bản chất, “đây là H20, đây là Oxygen”, còn nói theo hiện tượng: “đây là sương, đây là mưa, đây là hơi nước…”.
Có học đạo, có tu tập thì chúng ta mới có thể nhìn thấu thế giới này qua bản chất.
Còn không thì chúng ta chỉ sống trong hiện tượng mà thôi. Trong trường hợp đó Đức
Phật gọi hiện tượng đó là ‘tướng’.
Khi chìm sâu trong khía cạnh hiện tượng, cũng một người đó mà khi thì mình
nhìn để thương khi thì mình nhìn người đó để giận; nhưng đối với hành giả Tứ Niệm
Xứ thì họ nhìn người đó họ đắc quả. Cũng hiện tượng đó, cũng vẻ ngoài đó, cũng
ngoại tướng đó thôi, nhưng có người nhìn vào để khởi lên cái tâm thương thích
tham ái. Có người nhìn hình ảnh đó, con người đó để bực mình bất mãn; nhưng có
người nhìn con người đó để đắc quả. Nhìn mà để thương để ghét là anh bị kẹt vào
cái hiện tượng rồi. Chỉ có hành giả quán chiếu trên khía cạnh bản chất nên anh
ta mới chứng quả được.
Đoạn kinh này nói gì? Nhiều khi chúng ta sống quá nặng về hiện tượng, bắt
buộc chúng ta phải tìm đến gặp các vị đang tu chứng hoặc đã thành tựu thì họ mới
có thể hướng dẫn cho mình.
Mỗi người chúng ta đều có những đam mê, có người thích chơi tem, có người
thích tiền xưa, có người thích sưu tập đồ cổ, có người thích sưu tập rượu, thuốc
lá xì gà, nước hoa, hoặc xe v.v... Có một hành giả người Mã Lai rất mê chơi
tem, khi anh ta đi tu tập trong thiền viện thì anh ta không còn chơi tem nữa. Đi
tay không vào thiền viện thì lấy tem đâu mà chơi. Bữa đó vị thiền sư có việc xuống
văn phòng, anh ta cũng xuống văn phòng, thấy trong thùng rác có cái bao thư
trên đó có con tem rất là đẹp. Anh ta thò tay cầm lên coi. Vị thiền sư đứng kế
bên. Anh ta nói: Con có một bộ sưu tập tem rất là lớn, rất là giá trị. Con tem
này độc đáo, in đẹp và nguyên vẹn thế này, nếu cách đây chừng một năm mà gặp
con tem này thì con có thể điên lên được. Bởi vì con tem này được gởi đến từ đất
nước nhỏ nào đó mà chúng ta không có điều kiện sưu tập con tem loại này.
Vị thiền sư nói: Thế giới bao la đừng vùi chôn mình vào một mảnh giấy nhỏ
như vậy.
Ngài chỉ nói như vậy thôi. Chính câu nói đó đã đánh động lay tỉnh anh
hành giả đó. Từ đó về sau, rời thiền viện về anh không còn đụng tới tem nữa.
Câu chuyện về anh hành giả Mã lai đó chính là điều thứ 6 trong bài kinh này.
Khi chúng ta chìm sâu trong thế giới hiện tượng chúng ta không ra được. Lúc đó
chúng ta cần đến một sự hỗ trợ tối thiểu từ ai đó. Ngài nói nhẹ nhàng thôi, thế
giới này bao la lắm, đừng vùi chôn đời mình, con người mình, tương lai mình
trong miếng giấy nhỏ xíu như vậy. Mặc dù người chơi tem có nhiều cách biện minh,
“chơi tem là chúng ta đang chạm vào những
thế giới của văn hóa, của lịch sử, của triết học, của tư tưởng của nghệ thuật
v.v...” nhưng đó là cách nói của người chơi tem của người mê tem. Còn trong
nhận thức của một hành giả Tứ Niệm Xứ thì đó chỉ là miếng giấy nhỏ xíu bằng
ngón tay được dán lên trên phong bì để bưu tá viên theo đó gởi thơ giùm mình
thôi.
Trong 5 trường hợp đầu khi tâm bị ám ảnh bởi 5 triền cái chúng ta cần đến
sự hỗ trợ của minh sư thiện hữu đã đành rồi, mà trong trường hợp thứ 6, khi
phát hiện ra mình đang sống quá nhiều, quá lậm, đang bị ghim sâu gắm chặt trong
thế giới hiện tượng thì chúng ta cũng cần đến sự hỗ trợ của thầy bạn. Năm điều
đầu là nói về thiền Chỉ. Riêng điều thứ 6 thuộc về thiền Quán. Năm điều đầu thuộc
về Định, điều thứ 6 thuộc về Tuệ.
Đọc kinh mà đọc cho tới nơi tới chốn thì không kinh nào mà không quan trọng.
Chẳng hạn như kinh này, nếu đọc một mình mình không ngờ nó lớn chuyện như vậy.
Điều 6 là từng bước lìa bỏ thế giới hiện tượng để đi sâu vào thế giới bản chất.
Trong vô lượng kiếp chúng ta đã chết lên chết xuống với thế giới hiện tượng, chúng
ta bị mắc bẫy, chúng ta bị lừa dối với thế giới hiện tượng, từ đó chúng ta mới
có thích (tham) và ghét (sân), tham sân ở đâu thì si núp lùm kế bên đó. Bây giờ
biết Phật pháp rồi, có học có hành trì chúng ta không tiếp tục lún sâu chết
chìm trong thế giới hiện tượng nữa.
(Cre: Nhị Tường)
Saturday, August 14, 2021
NGÀI UPALI
Hễ nhắc đến ngài Upāli là mình phải thuộc câu thần chú này
Giải thoát không thể có nếu thiếu tuệ; tuệ không thể có nếu thiếu định; định không thể có nếu thiếu giới, giới không thể có nếu thiếu luật.
VÔ TƯỚNG TÂM GIẢI THOÁT
Việc tiếp tay cứu trợ cũng đã xong, vậy mà khi họ biết và tìm tới với những hoàn cảnh quá là hoàn cảnh thì không thể từ chối được. Thế là xuất tiền túi... Tự hứa không đọc mạng nữa, toàn những chuyện thương tâm. Phải an trú vào niệm xứ, vào kinh điển, mới qua được những ngày tháng bi thương này.
--------------------
Vô tướng tâm giải thoát là
gì? Trong Chú giải giải thích, Animittācetovimuttīti
balavavipassanā, Vô tướng tâm giải
thoát nghĩa là Tuệ quán miên mật.
‘Balavavipassanā’: tuệ quán miên mật.
‘Balava’: mãnh liệt.
Có ba hạng hành giả:
- Bậc hạ: thời gian thiền
tọa thiền hành tùy thuộc cái đồng hồ. Sau khi hết giờ thiền tọa thiền hành thì
quậy bung lụa, ăn chơi, karaoke, đua xe… trở về với bản năng.
- Bậc trung: ngoài giờ thiền
tọa thiền hành thì quẩn quanh trú xứ làm việc lành như nghe pháp, quét dọn, xem
kinh….; vì còn thất niệm nên gọi là bậc trung.
- Bậc thượng: không có giờ
thiền tọa hay thiền hành mà họ thiền tọa cho đến bao giờ thấy đủ họ đứng dậy đi;
đi bao giờ cho thấy đủ thì họ đi nằm hoặc đi làm việc gì đó. Trong suốt một
ngày tâm tư của hành giả bậc thượng không có hề có sự khác biệt nào giữa phút
giây này với phút giây khác. Ngay từ trên giường là biết rõ tôi đang nằm, biết rõ tâm trạng cảm xúc của tôi như thế nào,
hoặc nằm theo dõi hơi thở ra vào ra vào. Khi thấy đủ rồi thì vị này bước xuống
giường thì và bắt đầu một ngày mới với toàn bộ chánh niệm. Hạng này được gọi là
Balavavipassanā – tuệ quán miên mật.
Đức Phật dạy, một người an
trú trong tuệ quán miên mật như vậy thì họ không có tiếp tục sống trong sự ôm
ấp chấp giữ thế giới hiện tượng nữa. Thế giới hiện tượng là những gì làm cho
mình khổ, “cái đó là cái tôi thích”, “cái
đó là cái tôi ghét”, “đó là người tôi thương”, “đó là người tôi không ưa”, “cái
này đắt tiền, cái này rẻ tiền”, “tại sao cho tôi cái này mà không cho tôi cái
kia”…, đó được gọi là chấp tướng. Một vị hành giả tu tập tuệ quán miên mật
thì vị đó không bị trói buộc bởi những ngoại tướng phân biệt như vậy nữa. Bởi
vì ở đây là vô tướng mà, vô tướng tâm giải thoát nghĩa là không
bị chấp vào các ngoại tướng tục đế chế định, biến kế sở chấp thi thiết nữa. Cái
chén mẻ hay cái chén lành họ thấy giống nhau, thức ăn vừa miệng hay không vừa
miệng đối với họ giống nhau. Không phải họ u mê mất trí lú lẫn hay khờ khạo như
đứa bé, không phải họ không biết canh khoai khác canh chua khác canh bí, mà
không phân biệt nghĩa là ‘sao cũng được’. Họ biết hết nhưng sao cũng được. Hồi nãy
nghe nói trưa nay ăn mướp xào với măng nhưng bây giờ nhà bếp báo không có măng
thì họ thấy cũng bình thường. Người kia mới sáng nặng lời với họ, bây giờ háy
nguýt lườm liếc họ thấy cũng bình thường. Người kia quý mến họ lắm, đi ngang kính
cẩn chào miệng cười rất thân thiện, họ thấy cũng bình thường. Cứ phần mình mình
đi, chuyện mình mình làm, đường mình mình đi. Đó gọi là vô tướng, không còn
phân biệt. Tất cả đối với họ chỉ là danh sắc, chỉ là năm uẩn, chỉ là sanh diệt
thôi. Bởi vì, có ba hạng: 1. Khi chưa biết đạo thì chạy theo cái thích và trốn
cái ghét; 2. Biết đạo ba mớ thì quan tâm đến cái thiện, ghét cái ác; 3. Hạng
cao cấp nhất, trong mắt của họ thiện ác buồn vui chỉ là cảnh sanh diệt mà thôi.
Đối với họ cảnh buồn vui đề là cảnh đề mục. Ví dụ họ đang theo dõi đề mục hơi
thở, thở ra biết rõ đang thở ra, chỉ quan sát chứ không điều khiển, hơi thở ra
hết cỡ tự động nó vào, nó vào hết cỡ tự động nó ra. Có như vậy mới thấy cái
thân này không phải của mình. Mình có nghĩ tới nó hay không nó vẫn cứ ra cứ
vào. Lúc đang theo dõi như vậy thì có một tâm sân bực mình xuất hiện biết đây
là sân.
Người không học giáo lý thì
khỏi nói, họ cứ nghĩ sáng hôm nay tôi buồn quá, trưa nay tôi có nhiều chuyện
buồn quá, tuần này tôi có nhiều chuyện buồn quá, năm nay tôi nhiều chuyện buồn,
tháng này tôi nhiều chuyện buồn, nãy giờ tôi bực mình quá, nãy giờ tôi vui lắm
v.v... Đơn vị thời gian của người không học giáo lý hoặc không tu tập Tứ Niệm
Xứ rất dài. Đối với người tu tập Tứ Niệm Xứ thì họ thấy khác, đơn vị thời gian
không còn là ngày giờ mà là trong từng khoảnh khắc tâm lý: tâm tham đang có mặt, tâm sân đang có mặt… Nhưng lên ở mức rốt ráo
họ thấy tâm sân vừa biến mất. Bởi vì khi mà ta nhận diện đây là tâm sân thì lúc
đó tâm sân đã mất nhường chỗ cho cái tâm nhìn nó. Không bao giờ có hai tâm cùng
một cho nên khi thấy tâm sân có mặt thì lúc đó tâm sân đã mất tiêu rồi, cái tâm
thấy nó đã thế chỗ cho tâm sân.
Nắm được mấy cái này lỡ mai
mốt có bị trọng bệnh thì ôm cái này mà sống, mai mốt có đi thiền viện thì cũng
ôm cái này mà tu. Phải nắm được giáo lý để mai mốt có trôi dạt cuối trời, một
nơi không có thầy bạn tăng ni chùa miểu thì vẫn có cái để tu. Chứ còn căn bản giáo
lý không có, lúc còn trẻ thì sao cũng được chứ già bịnh rồi thì tu cái gì.
Vô tướng tâm giải thoát là
vậy đó, khi vị đó tu tập tuệ quán một cách miên mật tinh tấn rốt ráo thì đối
với vị đó không còn cái gì gọi là ngoại tướng để chấp nữa, bởi vì những gì mình
thấy nó đều là vừa mất đi, vừa diệt đi mà. Ngày xưa nó còn vuông tròn dài ngắn
xanh vàng đỏ tím, còn bây giờ mọi thứ mình vừa thấy nó thì nó đã mất rồi. Cho
nên đây là lý do vì đâu một người tu tập đã tuệ quán miên mật, (balavavipassanā)
thì gọi là vô tướng tâm giải thoát.
Nhìn thấy cái gì cũng là không có ngoại tướng, nhìn là mất tiêu.
Saturday, July 24, 2021
GIỜ THỨ 25
Ở VN, Thái Lan, Miến Điện bây giờ khổ lắm. Đâu có ngồi tu được,
có yên đâu mà ngồi tu. Nhất là bên Miến Điện. Miến Điện là mảnh đất thanh bình,
núi non sông biển hồ ao chỗ nào họ cũng tu. Chùa chiền khắp nơi, người dân nào
cũng tu. Bây giờ thì coi như phúc bất trùng lai họa vô đơn chí. Họa ập vô một
cái là không có đỡ được.
Như bên Florida, cái tòa nhà cao, sụp xuống đổ nát chết chóc
mất mát biết bao nhiêu. Mà nơi đó là
foreigner nhiều lắm, toàn người nước ngoài.
Cái dòng La San Mai thôn bên cư xá Thanh Đa, tức là của mấy
frère già La San Taberd ở đó. Khi các frère còn dạy học thì ở trường La San
Taberd -- hồi xưa Sư học ở đó -- còn khi lớn tuổi về hưu thì họ dời các frère về
cư xá Thanh Đa, trên sân thượng là nhiều phòng cho các frère. Sư có tới đó thăm.
Các frère già không còn biết, họ đẩy xe ra. Nơi đó là ở bên dòng sông, đẹp lắm.
Một đêm người ta nghe rắc rắc rắc rắc. Dòng sông Thanh Đa là dòng sông xoáy ngầm,
nó giựt nguyên một tòa nhà bốn tầng lầu trong đó có ba frère già đang ngủ. Một
frère còn thức đọc sách, nghe rắc rắc nhìn xuống thấy nước lên tới cửa sổ.
Frère ‘búng’ ra ngoài, cái tòa nhà đã mất cái chưn rồi từ từ sụt xuống dòng
sông, cuốn hai frère già theo dòng nước luôn. Frère kia bơi vô, kể lại. Họa vô
đơn chí. Florida cũng vậy, người ta đang ngủ mà tòa nhà sập. Lúc người ta đi
tìm trong đống đổ nát, họ bắt loa kêu còn ai không, còn ai cần cứu không. Đứa
bé ló bàn tay từ đống đổ nát ra. Tôi đây tôi đây. Mấy ông cứu hộ, kêu lên, ở
yên đó, chúng tôi tới. Mấy ổng xách nó ra vác nó trên vai. Nó sống chung với mẹ,
mà không biết mẹ nó ở đâu, giờ ra sao. Sư có coi cái phim đó. Sụp nguyên một
tòa nhà xuống, người trong đó không biết sống còn ra sao.
Cho nên, đêm ngủ là quí vị phải có đủ các hành lý hết, hành
lý là tư lương, không thể nào thiếu. Sau 1975, Sư có đọc một cuốn sách của nhà
văn người Roumanie tên Gheorghiu, cuốn Giờ Thứ Hai Mươi Lăm (La Vingt-cinquème
Heure), cuốn này được viết như một hồi ký của ổng. Sư đọc trong đó, lúc Liên Xô
chiếm vô Đông Âu thì Roumanie trở thành một nước (XHCN) cũng thuộc Liên Xô. Gheorghiu
nói, mỗi người dân chỉ biết mang một túi lương khô với mì, chút đậu phộng, hay
đồ khô để đầu giường. Nghe tiếng gõ cửa là cầm cái túi đó lên mở cửa đi ra. Họ
dắt đi luôn, không trở về.
Sư đọc cái đó rồi, khi sư vô tu sư thấy, ồ, Đức Phật dạy hay
quá. La Vingt-cinquème Heure, đúng rồi đó. Ông Gheorghiu này cũng nói rồi đó,
bây giờ với mình, khi quỷ vô thường tới hay chư thiên tới lôi mình đi thì chỉ
có túi tư lương đó thôi. Chớ còn “Thân tôi tài sản tôi, người ngu nghĩ như thế,
thân ta còn không có, con đâu tài sản đâu”, Đức Phật dạy. Do đó mình phải biết
điều đó, khi giờ thứ 25 gõ cửa. Không có chối từ được, không có “đợi tôi chút, tôi nói chuyện này xíu, chờ tôi
từ giã…” Không có đâu. Florida là không có từ giã. Đi. Mấy frère dòng Mai
Thôn là không có từ giã. Đi. Giờ thứ 25 mình không biết được. Trừ phi quí vị ngồi
thiền mà có định, cũng không biết được. Còn ngoài ra sống mà phóng dật thì
không biết được cái kiểu gõ cửa của mình...
(Trích đoạn bài giảng Phóng Dật, tự nhiên nghe đến đây bấm pause, đi tới mở tủ sách tìm cuốn Giờ Thứ 25, thiệt là... phóng dật mà)
NHỮNG NGÀY TRỌNG DỊCH
Hôm kia Hiếu nói, chị ơi bên Bình Thạnh có tám mươi mấy gia
đình trong một hẻm bị F0 phong tỏa bất ngờ. Họ chưa kịp chuẩn bị gì. Không có
thuốc uống tăng sức đề kháng. Rồi lát sau Hiếu lại nhắn nữa, chắc em phải đi
thôi. Em gom trong nhà coi còn được một hộp Vitamin C cũng nhiều nhiều. Giờ em
ra chợ sỉ, xem còn em mua mang đến cho họ. Thế là Hiếu băng mình giữa trời mưa
từ Tân Phú để xuống Bình Thạnh.
Chiều hôm qua Hiếu gọi. Chị ơi chị ơi, khu đó (Bình Chánh) phong
tỏa năm ngày rồi, hôm trước nhận ba trái khổ qua, sáng nay nhận mấy trái đậu bắp
và dưa leo, nhà có hai đứa con nít. Họ khóc luôn. Trời ơi. Nhắn cho chị số tài khoản đi. Phong tỏa
chị ơi, không có ai đi mua được. Nhóm em hôm trước tiếp tế chỗ đó giờ cũng đi
không được.Chắc em ăn đại chén cơm rồi đi. Nghe mà lòng dậy lên nỗi lo âu. Từ
Tân Phú qua Bình Chánh đâu có gần, đi mà sợ bị bắt quay đầu, đi mà sợ bị nhiễm
dù có giấy xét nghiệm âm tính, Hiếu còn có mẹ già con dại nữa. Hiếu nói, 50 nhà
ít nhất phải 50 thùng mì, không biết mua làm sao chở đi. Thôi đừng đi em, ráng
tìm người gần đó. Một lát sau Hiếu gọi, chị ơi mừng quá, SC Quang Duyên có liên
hệ được một Sư có sẵn 50 thùng mì chất lên xe chở đi rồi. Ngày mai có một
nhóm cho gạo với trứng và cái gì nữa đó. Nhẹ lòng ghê gớm.
Đêm qua đọc trên Facebook ai đó: “Nãy nghe chị trong Biệt Đội Phản Ứng Nhanh, một cái tên rất hầm hố, kể lại đi vô hẻm hóc nhỏ khu quận 8 nơi mà không ai đến để tặng thực phẩm. Tặng xong người dân quì xuống lạy. Chỉ về khóc mất mấy ngày.” Tự nhiên nằm khóc theo. Thương
quá dân mình.
Friday, July 23, 2021
CÒN XE CẤP CỨU CHẠY LÀ CÒN MỪNG
Đêm qua quyết tâm không đọc mạng nữa, leo giường đọc sách và sẽ ngủ sớm. Vậy mà mới hơn 8 giờ, nghe quáo quáo quáo, mở cửa ra ban công nhìn xuống một đoàn chắc cũng 5 xe cấp cứu chạy vun vút qua nhà hướng về Bình Long.
Nhìn sang bên kia chung cư, tầng nào mọi người cũng ùa hết ra ban công đứng ngó xuống.
Giờ này mà còn xe cấp cứu chạy là còn mừng. Bạn nói, ai được cấp cứu tới chở là còn có phước, còn có hy vọng sống.
Trằn trọc mãi gần sáng mới ngủ được. Trong giấc mơ cũng đầy người như trẩy hội và đầy xe cấp cứu.
NGƯỜI SÀI GÒN
Tôi từng chở một cái thùng phía sau xe rất là theo meo muốn rớt, đi trên đường phố Sài Gòn. Con gái tôi hỏi sao mẹ liều vậy. Tôi nói, đây là Sài Gòn, nếu rớt chắc chắn sẽ có không ít người giúp mẹ bưng cái thùng lên xe để mẹ chở đi tiếp.
Trong cơn hoạn nạn chung vì đại dịch, tôi cảm thấy may mắn khi mình đang ở Sài Gòn. Một con hẻm ở Bình Thạnh bị phong tỏa bất ngờ vì hơn 80 gia đình trong hẻm bị F0. Bạn tôi từ Tân Phú giữa trời mưa băng mình đi mua gom vitamin C mang đến cho họ. Một câu tút than đang khó khăn trên group là sẽ có người gởi ngay gạo, rau, thuốc, và cả tiền vào tài khoản. Một người quen của bạn tôi là 'nhân viên công lực' gác một khu phong tỏa, đến giờ mọi người trong khu ra sắp hàng chờ được phát cơm, thấy còn có người chưa có cơm mà cơm đã hết, liền xách xe chạy đi tìm chỗ nào có phát cơm để xin đem về cho họ.
Người Sài Gòn không bỏ rơi ai bao giờ. Hễ còn có thể chia sẻ được là chia sẻ. Nhưng nếu người Sài Gòn cũng đói thì lấy gì mà chia sẻ? Bạn đừng lo, hơn một nửa người Sài Gòn hiện giờ đang sống ở khắp thế giới, họ không bao giờ để cho những người thân hay đồng hương của mình nơi quê nhà bị đói đâu.
Dù là dịch bệnh đang bủa vây, nhưng nếu ai đang sống ở Sài Gòn, hãy thấy mình may mắn. Và hãy sống 'có ta có người' hệt như người Sài Gòn.
THÁNG BẢY BUỒN
Chiều đi ngang qua một ngôi nhà thờ, cạnh nhà thờ là bưu điện. Nhà thờ thì vắng tênh đóng cửa, còn trước bưu điện thì một nhóm từng người im lặng, đội mũ, mang kính, bịt khẩu trang đứng cúi đầu, cách nhau hai mét sắp hàng chờ vào bên trong giao dịch gì đó. Thoạt nhìn, cứ tưởng họ đang mặc niệm, hay đang tham dự thánh lễ gì đó. Mà cũng phải, cứ nhìn nhau như một F0 thì nào ai còn muốn gợi chuyện với ai.
Sunday, May 9, 2021
AṄGULIMĀLASUTTA
Thấy một em trong friendlist chuẩn bị sanh em bé, tôi chợt nhớ chuyện sanh em bé của con gái cách đây không lâu với những điều chiêm nghiệm liên quan.
Lúc con gái mới có bầu một hai tháng gì đó, trong lần khám định kỳ, bác sĩ đưa cái kết quả xét nghiệm và tuyên bố một câu xanh dờn rằng em bé có khả năng bị Down và tỉ lệ là 1/250. Họ đề nghị chọc ối xét nghiệm thêm này nọ nữa. Nhưng dù xét này nghiệm nọ thì một cái án vẫn treo lơ lửng đâu đó. Phải nói đó là những ngày tháng hoang mang tuyệt vọng ghê gớm. Cầu cứu Sư, Sư nói bên Mỹ cũng có cô Phật tử gặp trường hợp này với ba đứa con, kết quả xét nghiệm đều như vậy, nhưng sinh ra hoàn toàn bình thường. Sư cho một đoạn trong bài kinh Aṅgulimāla để đọc (Bài kinh trên ảnh).Tôi post bài kinh trên fb, tag con gái vào. Tìm trên youtube bài kinh đó, thu âm đoạn tụng ngắn đó, gởi cho con gái học thuộc làu làu tụng hằng ngày. Dù chẳng biết gì Pāḷi,chỉ hiểu sơ sơ bài kinh nhưng con gái vẫn y lời dặn tụng theo đoạn ghi âm.
Tháng cuối, nhóc tì đã quay đầu xuống đâu vào đấy, gần đến ngày sinh bỗng …đổi ý, xoay đầu ngược lên lại. Nó rõ rệt đến nỗi con gái vội lấy tay giữ lại. Rồi đi khám, bác sĩ nói ngôi ngang ngôi ngược chi đó. Nhóc tì rõ ràng ngang ngược không muốn đi ra bằng con đường như thiên hạ bao đời nay.
Người ta truyền thuốc giục vô là đau bụng, còn con gái chả hề đau bụng tí nào cứ như là…thuốc giả. Miệng vẫn tụng đoạn kinh và chờ đợi.
Bác sĩ chỉ định sanh mổ. Gây tê tủy sống. Con gái kể, vẫn liên tục tụng câu kinh không hề dứt kiểu ‘nhất tâm bất loạn’, nhưng ngay giây phút kim vừa đâm vô là hoàn toàn quên sạch câu kinh. Không nhớ ra một chút gì bài kinh đó để tiếp tụng tụng nữa. Em bé được lấy ra, và giờ thì hăm chín tháng rồi, không hề Down mà thậm chí… Up, quậy như giặc hôm nay biết đọc hết 24 chữ cái và đếm từ 1-20 bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh, do tự học trên youtube.
Một bạn khác của con gái đau bụng mấy ngày không sanh được. Con gái chụp hình bài kinh đã post trên fb gởi cho. Thế là con bé cũng bập bẹ tụng và đẻ tuốt luốt. Xong rồi hể hả gọi phone kể ngay cho bạn sự thần kỳ của bài kinh.
Kể câu chuyện trên tôi không phải ý muốn nói sự mầu nhiệm của bài kinh. Mà qua diễn biến trường hợp của con gái tôi mới thấy rằng mình không thể ỷ y trong cuộc đời rằng bây giờ mình tu lai rai mai mốt cuối đời chắc cũng không đến nỗi nào. Chỉ một mũi kim châm tủy sống thôi mà một bài kinh tụng thuộc lòng ngày ngày đã lập tức quên sạch. Điều đó có nghĩa rằng, ngay giây phút cận tử cũng thế, đừng ỷ y rằng mình tu ngon đi ngon. Chuyện quên sạch là chuyện hẳn nhiên luôn. Lúc đó ắt cần lắm người trợ niệm có ai nhắc lại cho mình bài kinh, công hạnh mình đã làm, chứ còn không thể nào chắc ăn rằng mình vẫn còn nhớ lại một điều gì đã làm thuở bình sinh.
Thursday, May 6, 2021
LO
I Worried
Mary Oliver
I worried a lot. Will the garden grow, will the rivers
flow in the right direction, will the earth turn
as it was taught, and if not how shall
I correct it?
Was I right, was I wrong, will I be forgiven,
can I do better?
Will I ever be able to sing, even the sparrows
can do it and I am, well,
hopeless.
Is my eyesight fading or am I just imagining it,
am I going to get rheumatism,
lockjaw, dementia?
Finally, I saw that worrying had come to nothing.
And gave it up. And took my old body
and went out into the morning,
and sang.
Sống khôn thác thiêng
“Những gia đình nào mà có con cái hiếu thảo thì những gia đình đó được coi là gia đình [có] Phạm thiên”. Đó là câu trong bài kinh "Ngan...
-
Trưa nay, chơi với đứa trẻ lên ba. Tôi thì thào, nó thì thào. Tôi hét to, nó hét to theo. Tôi cười to, nó cũng cười to theo. Tôi cố kéo d...
-
Trong một tháng giêng mà bao nhiêu chuyện xảy đến. Nhìn lên tượng Phật đặt trên bàn vi tính, chợt nhớ lời của bé Khải Như: - Bà ơi bà, Phậ...









