Showing posts with label Những bài kinh hay. Show all posts
Showing posts with label Những bài kinh hay. Show all posts

Wednesday, December 28, 2022

Tuổi nào ghi dấu chân chim qua trời?

Một ngày tưới cây bỗng nhớ một câu hát của Trịnh Công Sơn:

Tuổi nào nhìn lá vàng úa chiều nay
Tuổi nào ghi dấu chân chim qua trời.

Câu hát vừa băng ngang đầu bỗng chợt nhớ Subhadda. Đó là một du sĩ ngoại đạo, vào đêm cuối cùng khi Đức Phật sắp viên tịch đã nghĩ rằng một con người vĩ đại một con người hy hữu có một không hai sắp từ giã cõi đời, nên vội vã cố vào tìm gặp để xin giải đáp một nghi vấn vừa khởi lên.

Trong kinh có nói hai ông tên là Subhadda. Một ông là đệ tử đã xuất gia khi lớn tuổi, trong đoàn tỳ kheo tùy tùng ngài Ca Diếp trên đường về Kusinara, nghe tin Đức Phật viên tịch và chung quanh khóc thương đã nói rằng khóc mà chi từ nay chúng ta được thoát khỏi hoàn toàn vị Ðại Sa-môn ấy, không bị phiền bởi những câu "Làm như thế này không hợp với các ngươi, làm như thế này hợp với các ngươi; nay thì muốn làm gì thì làm, không muốn làm thì không làm…

Khi du sĩ ngoại đạo Subhadda vào xin gặp Phật, ngài Ānanda chặn lại không cho. Phật mệt lắm rồi, thôi đừng làm phiền nữa. Ba lần xin gặp ngài Ānanda đều ngăn lại. Đức Phật nói ngài Ānanda cho vào vì biết rằng đây là một người đến để hỏi đạo chớ không phải làm phiền. Ngoại đạo Subhadda vào chúc tụng hỏi thăm xã giao rồi nêu tên những vị giáo chủ, khai tổ các giáo phái tiếng tăm và hỏi Phật rằng tất cả những vị này có phải là giác ngộ chưa, hay chưa giác ngộ, hay một số giác ngộ một số chưa, hay tự nhận mình đã giác ngộ.

Hai ngàn năm trăm năm trước cũng giống y hệt giang cư mận chúng ta ngày nay nhỉ. Nhưng vị du sĩ ngoại đạo này hỏi với một tinh thần là để học hỏi chớ không phải để… ném đá.

Và Đức Phật đã nói, thôi nào Subhadda, để chuyện ông nào đắc ông nào chưa đắc qua một bên đi, lắng nghe nè:

Trên hư không không từng có dấu chân chim.
Ngoài bát thánh đạo không có thánh nhân.
Vạn hữu không thể nào có sự vĩnh cửu.
Chư Phật không hề có sự dao động.
(PC 255, Phẩm Phật Đà)
(255. Ākāse padaṃ n’atthi samaṇo n’atthi bāhire, saṅkhārā sassatā n’atthi n’atthi buddhānaṃ iñjitaṃ.)
Sau đó thì du sĩ ngoại đạo Subhadda được xuất gia thọ đại giới với Đức Phật. Đó là vị đệ tử cuối cùng được Ngài tế độ vào phút… 89.

Vậy chuyện câu hát của Trịnh Công Sơn có liên quan gì ông Subhadda? Đó là không biết là Trịnh Công Sơn có nghe qua câu kinh “Trên hư không không từng có dấu chân chim” hay chưa, nhưng chim bay trên trời làm sao mà in dấu chân. Rõ ràng ở đây là một sự “từ bi bất ngờ” của Trịnh Công Sơn khi một ngày nhìn thấy trên khuôn mặt giai nhân nào đó quá trời dấu chân chim!!!

Câu nhạc ấy có lẽ là “tuổi nào ghi dấu chân chim quá trời”, bởi Phật nói trên hư không làm gì có dấu chân chim!
Nhị Tường 29/12/2022 

Friday, November 4, 2022

Những bài kinh nói về niết bàn

 


NIỆM NIẾT BÀN

Khi thấy khổ nhân (bị phiền não) hay khổ quả (bị bất toại) cứ suy niệm:

Niết bàn không có như vậy; niết bàn là sự vắng mặt của danh và sắc, của năm uẩn, 12 xứ, 18 giới; niết bàn là sự vắng mặt của nhân và quả; niết bàn không có khổ lạc, niết bàn không có thiện ác. Cách niệm này ngay cả ung thư kỳ cuối tuy không hết bệnh, nhưng giảm đau và giúp ta đủ bình tĩnh để ra đi trong tỉnh táo, thanh thản.


Dưới đây là những bài kinh nói về Niết Bàn

 

NHỮNG BÀI KINH NÓI VỀ NIẾT BÀN

 

DHAMMAPADA  (Kinh Pháp Cú)

202. Natthi rāgasamo aggi,

Natthi dosasamo kali;

Natthi khandhasamā dukkhā,

Natthi santiparaṁ sukhaṁ.

 

 “Lửa nào sánh lửa tham?

Ác nào bằng sân hận?

Khổ nào sánh khổ uẩn,

Lạc nào bằng tịnh lạc.”

 

203. Jighacchāparamā rogā,

saṅkhāraparamā dukhā;

Etaṁ ñatvā yathābhūtaṁ,

nibbānaṁ paramaṁ sukhaṁ.

 

 “Ðói ăn, bệnh tối thượng,

Các hành, khổ tối thượng,

Hiểu như thực là vậy,

Niết Bàn, lạc tối thượng.”

(HT Thích Minh Châu dịch)

 

ITIVUTTAKA 43.  (Phật Thuyết Như Vậy)

AJATASUTTA (KINH KHÔNG SANH)

1. “Atthi bhikkhave, ajātaṃ abhūtaṃ akataṃ asaṅkhataṃ. No ce taṃ bhikkhave, abhavissā ajātaṃ abhūtaṃ akataṃ asaṅkhataṃ, nayidha jātassa bhūtassa katassa saṅkhatassa nissaraṇaṃ paññāyetha. Yasmā ca kho bhikkhave, atthi ajātaṃ abhūtaṃ akataṃ asaṅkhataṃ, tasmā jātassa bhūtassa katassa saṅkhatassa nissaraṇaṃ paññāyatī ”ti.

“Này các tỳ khưu, có cái không sanh—không hiện hữu—không làm ra— không tạo tác. Này các tỳ khưu, nếu không có cái không sanh—không hiện hữu—không làm ra—không tạo tác ấy thì ở đây việc ra khỏi cái sanh—hiện hữu—làm ra—tạo tác không được biết đến. Này các tỳ khưu, bởi vì có cái không sanh—không hiện hữu—không làm ra—không tạo tác, cho nên việc ra khỏi cái sanh—hiện hữu—làm ra—tạo tác được biết đến.”

2. “Jātaṁ bhūtaṁ samuppannaṁ, kataṁ saṅkhatamaddhuvaṁ;

Jarāmaraṇasaṅghāṭaṁ, roganīḷaṁ pabhaṅguraṁ.

Āhāranettippabhavaṁ, nālaṁ tadabhinandituṁ;

 

“Cái sanh—hiện hữu—phát khởi—làm ra—tạo tác là không bền vững, gắn liền với già và chết, cái ổ của bệnh tật, dễ tiêu hoại, có thức ăn và tham ái là nguồn sanh khởi, không xứng đáng để thích thú

 

3. Tassa nissaraṇaṁ santaṁ,  atakkāvacaraṁ dhuvaṁ,

ajātaṁ asamuppannaṁ, asokaṁ virajaṁ padaṁ;

nirodho dukkhadhammānaṁ, saṅkhārūpasamo sukho”ti.

 

 Sự ra khỏi cái ấy là an tịnh, vượt ngoài suy luận, bền vững, không sanh, không phát khởi, không sầu, xa lìa luyến ái, là chỗ tựa, sự tịch diệt các pháp khổ, sự yên lặng các pháp tạo tác, an lạc.”

 

 (Bhikkhu Indacanda dịch)

 

 

ITIVUTTAKA  44.  (Phật Thuyết Như Vậy)

1. “Dvemā, bhikkhave, nibbānadhātuyo. Katamā dve? Saupādisesā ca nibbānadhātu, anupādisesā ca nibbānadhātu.

 “Này các tỳ khưu, đây là hai bản thể của Niết Bàn. Hai bản thể nào? Bản thể Niết bàn còn dư sót và bản thể Niết Bàn không còn dư sót.

2. Katamā ca, bhikkhave, saupādisesā nibbānadhātu? Idha, bhikkhave, bhikkhu arahaṁ hoti khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto. Tassa tiṭṭhanteva pañcindriyāni yesaṁ avighātattā manāpāmanāpaṁ paccanubhoti, sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedeti. Tassa yo rāgakkhayo, dosakkhayo, mohakkhayo—ayaṁ vuccati, bhikkhave, saupādisesā nibbānadhātu.

Và này các tỳ khưu, cái nào là bản thể Niết bàn còn dư sót?

Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu là bậc A-la-hán, có lậu hoặc đã được cạn kiệt, đã được hoàn mãn, có việc cần làm đã làm, có gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của mình đã được đạt đến, có sự trói buộc ở hữu đã được đoạn tận, đã hiểu biết đúng đắn và đã được giải thoát. Đối với vị ấy, năm giác quan vẫn tồn tại, thông qua trạng thái không bị hủy hoại của chúng vị ấy tiếp nhận đối tượng thích ý hoặc không thích ý, và cảm thọ hạnh phúc hay khổ đau. Cái có cho vị ấy là sự diệt trừ tham, sự diệt trừ sân, sự diệt trừ si. Này các tỳ khưu, cái này gọi là bản thể Niết bàn còn dư sót.

 

3. Katamā ca, bhikkhave, anupādisesā nibbānadhātu?

Idha, bhikkhave, bhikkhu arahaṁ hoti khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto. Tassa idheva, bhikkhave, sabbavedayitāni anabhinanditāni sīti bhavissanti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, anupādisesā nibbānadhātu. Imā kho, bhikkhave, dve nibbānadhātuyo”ti.

 Và này các tỳ khưu, cái nào là bản thể Niết bàn không còn dư sót?

Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu là bậc A-la-hán, có lậu hoặc đã được cạn kiệt, đã được hoàn mãn, có việc cần làm đã làm, có gánh nặng đã được đặt xuống, có mục đích của mình đã được đạt đến, có sự trói buộc ở hữu đã được đoạn tận, đã hiểu biết đúng đắn và đã được giải thoát. Này các tỳ khưu, đối với vị ấy, ngay ở nơi đây tất cả những gì được cảm thọ là không được thích thú, sẽ trở thành mát lạnh. Này các tỳ khưu, cái này gọi là bản thể Niết bàn không còn dư sót. Này các tỳ khưu, đây là hai bản thể của Niết Bàn.”

 

4. “Duve imā cakkhumatā pakāsitā,

Nibbānadhātū anissitena tādinā;

Ekā hi dhātu idha diṭṭhadhammikā,

Saupādisesā bhavanettisaṅkhayā;

Anupādisesā pana samparāyikā,

Yamhi nirujjhanti bhavāni sabbaso.

 

“Hai bản thể Niết bàn này đã được giảng giải bởi đấng Hữu Nhãn, bậc không bị lệ thuộc, bậc tự tại: Một bản thể, tại đây, ở thời hiện tại, còn dư sót, có sự diệt tận lối dẫn đến các hữu, hơn nữa là (bản thể Niết bàn) không còn dư sót ở thời vị lai, lúc các hữu được diệt tận toàn bộ.

(Bhikkhu Indacanda dịch)

 

 

THERAGATHA (Trưởng Lão Tăng Kệ)

702. Mahāgini pajjalito, anāhāropasammati

Aṅgāresu ca santesu, nibbutoti pavuccati.

Đống lửa lớn cháy rực, không có nhiên liệu thì được lắng dịu, và khi các tro than được lặng yên thì được gọi là ‘tịch tịnh.’

 

703. Atthassāyaṁ viññāpanī, upamā viññūhi desitā;

Viññissanti mahānāgā, nāgaṁ nāgena desitaṁ.

Ví dụ này, giúp cho hiểu rõ về ý nghĩa, đã được thuyết giảng bởi các bậc hiểu biết, các bậc Long Tượng vĩ đại sẽ hiểu được về bậc Long Tượng đã được thuyết giảng bởi bậc Long Tượng.

 

704. Vītarāgo vītadoso, vītamoho anāsavo;

Sarīraṁ vijahaṁ nāgo, parinibbissatyanāsavo”ti.

Có luyến ái đã được xa lìa, có sân hận đã được xa lìa, có si mê đã được xa lìa, không còn lậu hoặc, trong khi dứt bỏ xác thân, bậc Long Tượng sẽ viên tịch Niết Bàn, không còn lậu hoặc.

(Bhikkhu Indacanda dịch)

 

 

KINH TƯ LƯỜNG (Tương Ưng Bộ Kinh)

18) ‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, puriso kumbhakārapākā uṇhaṃ kumbhaṃ uddharitvā same bhūmibhāge paṭisisseyya [paṭiviseyya (sī.), patiṭṭhapeyya (syā. kaṃ. pī.), paṭiseveyya (ṭīkā)]. Tatra yāyaṃ usmā sā tattheva vūpasameyya, kapallāni avasisseyyuṃ. Evameva kho, bhikkhave, bhikkhu kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmīti pajānāti, jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmīti pajānāti. Kāyassa bhedā uddhaṃ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissanti, sarīrāni avasissantīti pajānāti.

18) Này các Tỷ-kheo, ví như một người từ trong lò nung của người thợ gốm lấy ra một cái ghè nóng và đặt trên một khoảng đất bằng phẳng để sức nóng ở đấy được nguội dần, và các miếng sành vụn được gạt bỏ một bên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: "Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân". Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: "Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng". Vị ấy biết: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên".

(HT Thích Minh Châu dịch)

 

Sunday, September 4, 2022

Kinh Thôn Tiên (Trung Bộ Kinh 116)

Kinh Thôn Tiên (Isigili Sutta). 

Thôn Tiên không phải là một thôn nào đó toàn tiên nữ. Mà 'thôn' ở đây có nghĩa là nuốt trộng, nuốt chửng, nuốt nguyên con, nuốt trọn gói.

Năm trăm vị Phật Độc Giác đã từng cư trú ở Isigili trong một thời gian dài. Người ta thấy họ khi họ vào núi nhưng vào khuất bên trong thì không thấy nữa nên nói rằng núi đã nuốt chửng các nhà hiền triết và vì vậy nó có tên là Isigili (Isī gilatī ti = Isigili).

Chú giải sư Buddhaghosa cho biết thêm rằng khi các vị Độc Giác Phật khất thực trở về thì tảng đá mở ra như một cánh cửa cho họ vào. Bên trong tảng đá họ đã tự làm cho mình nơi trú ẩn.
Bên cạnh "Thôn tiên" này có một tảng đá đen tên là Kālasilā

Kālasilā?
Trong Tiểu Kinh Khổ Uẩn, (Kinh Trung Bộ số 14), đoạn 179, có nói một số lượng lớn mấy ông theo Ni Kiền Tử (Nigantha) sống tại Kālasilā, không bao giờ ngồi xuống, trải qua những cơn đau quỷ khốc thần sầu, theo lời dạy của Nigantha Nātaputta. Đức Phật hỏi họ về những thực hành của họ và giảng cho họ bài Tiểu Kinh Khổ Uẩn và sau này Ngài kể lại cho ông hoàng Mahānāma nghe.
Link bài kinh đó ở đây: https://vietheravada.net/kinhdien/MNdoichieu/MN-14.htm

Isigili cũng là hiện trường vụ tự sát của hai vị Godhika và Vakkali và cũng là nơi bọn côn đồ tấn công sát hại ngài Moggallāna (Mục Kiền Liên). Chúng bằm nát ngài như tương, tưởng ngài chết, chúng bỏ đi. Ngài dùng định lực về đảnh lễ Phật và nhập diệt tại Kāḷasilā. Lễ trà tỳ ngài được tổ chức trọng thể. Phật cho thu gom xá lợi của ngài và dựng tháp thờ trong Veḷuna

Tìm hoài trên mạng không thấy hình Thôn Tiên Isigili mà chỉ thấy video mờ nhạt của ngọn núi, kèm theo hình những xá lợi của ngài Mục Kiền Liên. Link ở đây:
https://www.youtube.com/watch?v=NoJas_IrA0s

Nội dung bài kinh này nói gì? Đức Thế Tôn đã kể lại nguyên do ngọn núi có tên là Isigili, Ngài nêu lên danh hiệu của một số chư Phật độc giác, nói lên lời tán thán. Do câu Phật ngôn sau cùng của kinh nầy nên tại Tích Lan Kinh Thôn Tiên được trì tụng như một bài kinh cầu an.

Xem bài kinh ở đây:
https://vietheravada.net/kinhdien/MNdoichieu/MN-116.htm

Nghe tụng Pali bài kinh này ở đây:
https://www.youtube.com/watch?v=imxq-Cr_P80

KỆ TỤNG
Khi ở thành Vương xá
Từ đỉnh núi Thôn tiên
Phật chỉ các ngọn núi
Vây quanh thành Vương xá:
Ve-bhā-ra (Phụ trọng)
Pan-da-va (Bạch thiện)
Ve-pu-lla (Quảng phổ)
Gijja-kā-ta (Linh thứu)
Những núi này xưa kia
Ðều mang những tên khác
Duy có tên Thôn tiên
Trước sao nay vẫn vậy.
Do đâu có tên này
Là I-si-gi-li (Thôn tiên)?
Xưa năm trăm Ðộc giác
Tu trong này khá lâu.
Họ đã vào trong núi
Rồi không thấy trở ra
Nên quần chúng bảo nhau:
Núi này nuốt (thôn) ẩn sĩ.
Và Phật kể danh xưng
Mười ba vị độc giác
Ðã trú trong núi ấy
Cùng nhiều ẩn sĩ khác.
Họ là những tinh hoa
Của tất cả hữu tình
Ðã nhổ mũi tên khổ
Và dứt sạch tham ái;
Ðã tự mình chứng đắc,
Ðã đoạn tận tái sinh
Ðã từ bỏ chấp thủ
Nguồn gốc của khổ đau;
Ðã đánh bại quân ma,
Ðã đoạn trừ tai nạn
Có can đảm phi thường
Thọ hình hài sau chót
Những con người vô cấu
Ðã đoạn hữu kết sử,
Ðã thắng mọi chiến trận
Ðã đạt đến Niết-bàn.

Thursday, September 1, 2022

Đọc Kinh Vương Tử Bồ Đề

 


Bài Kinh 85 Trung Bộ Kinh- Kinh Bồ Đề Vương Tử thú vị ghê. Mô tả gần như trọn gói quá trình chứng đạo và hoằng pháp đầu tiên của Đức Phật.

-----
* Ông Vương Tử Bồ Đề này quy y Phật 3 lần khi còn trong bụng mẹ và khi bà vú ẵm nách (Đoạn 346).
Theo Chú giải, ông Vương tử Bồ-đề không con, mong muốn có một con trai. Ông nghe nói cúng Phật thì có thể thỏa mãn ước nguyện, nên trải một tấm vải trắng và nguyện: nếu Phật dẫm lên tấm vải, thì ông sẽ có con trai; nếu Phật không dẫm lên tấm vải thì không. Thế nhưng Phật đã không dẫm lên tấm vải, bởi biết do ác nghiệp quá khứ nên ông không thể có con. Kiếp xưa vợ chồng ông là thương buôn chìm tàu dạt trên đảo hoang. Không có gì ăn họ ăn toàn trứng chim suốt. Do tội ăn trứng, lúc ăn thì cũng biết mình ăn mầm sống, nên đời đời sinh ra không con. (Có lẽ bạn nào hiếm muộn cũng không nên ăn trứng). Hơn nữa, Ngài không làm như vậy bởi nếu thiên hạ cứ vì cung kính chư tăng mà được thỏa nguyện thì sau này họ sẽ không cung kính nữa nếu mong cầu của họ không được đáp ứng. (Đoạn 325)
------
Đoạn 327-328 nói về quá trình học với những vị thầy: Alara Kalama, Uddaka Ramaputta, chứng Phi tưởng phi phi tưởng.
Ngài học hết bài của mấy ổng, tốt nghiệp hạng xuất sắc, được giữ lại trường giảng dạy luôn. Ông thầy Uddaka Ramaputta nói: "Tôi như thế nào, Hiền giả là như vậy; Hiền giả như thế nào, tôi là như vậy. Nay hãy đến đây, Hiền giả, hai chúng ta hãy chăm sóc hội chúng này!"
Nhưng Ngài chê: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ".
Rồi Ngài bỏ đi tiếp.
-----
Ngài nghĩ rằng nếu muốn chứng đắc cần phải buông bỏ những khát vọng về thân cũng như về tâm.
"Cũng vậy, này Vương tử, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn sống xả ly các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục, như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khác vọng, dục nhiệt não, về nội tâm được khéo đoạn trừ. Nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Và nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này không thình lình cảm thọ những cảm giác khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị này cũng có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Này Vương tử, đó là ví dụ thứ ba, vi diệu, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta."
Sau đó là quá trình hành xác, tu thiền nín thở, nhịn ăn vv.. đến sắp chết, chư thiên vẫn tìm cách duy trì sự sống của Ngài. Và cuối cùng Ngài ăn trở lại, vì có khổ hạnh đau đớn cũng không thể chứng đạo.
--------
Từ đoạn 335 bắt đầu nói về quá trình đắc chứng Tam Minh của Ngài.
"...Này Vương tử, đó là minh thứ ba mà Ta đã chứng được trong canh cuối, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần."
Ngài dạy muốn tu chứng phải có 5 tinh cần chi:
1. Tin Phật;
2. Có sức khỏe, ít bệnh;
3. Trung thực không gian trá;
4. Siêng năng từ bỏ các bất thiện và tu tập thiện pháp;
5. Có trí tuệ về sự sinh diệt của các pháp.
Nếu như vậy thì vị ấy có thể đắc lậu tận trong bảy năm. Cũng có thể là sáu, năm, bốn, ba, hai, một năm, cho đến bảy tháng, sáu, năm, bốn, ba, hai, một, nửa tháng, cho đến bảy đêm ngày. Lại có thể có người được giảng dạy buổi sáng thì buổi chiều đã chứng đắc. (Đoạn 345)
------
Sau khi chứng đạo, Ngài thấy rằng thật khó mà nói cho thế gian hiểu đạo của Ngài.
"Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!"
Pháp do Ngài chứng mà Ngài còn thấy khó nói nữa, vậy mà các facebookers chúng ta biết tí xíu như hột mè lại cứ thích vanh vách giảng cho người này người kia kiểu khoe pháp. :)))
-----
Phạm Thiên Sahampati đã thỉnh Ngài thuyết pháp. Nếu không có ông này có lẽ chúng ta giờ cũng mù tịt về đạo Phật. Đời đời nhớ ơn ổng sống mãi trong đạo nghiệp của chúng ta. 🙂 . Ổng nói, căn cơ chúng sanh đủ kiểu đủ cỡ như hoa sen trong hồ, có người này người kia, xin Ngài hãy từ bi mà thuyết. (Đoạn 339). Nếu như ngài Sahampati xuống vào thời này, ắt sẽ nói, còn có loại sen đột biến nữa thưa Phật....
------
Và Ngài nói với Phạm Thiên Sahampati một bài kệ
‘Apārutā tesaṃ amatassa dvārā,
Ye sotavanto pamuñcantu saddhaṃ;
Vihiṃsasaññī paguṇaṃ na bhāsiṃ,
Dhammaṃ paṇītaṃ manujesu brahme.
Sở dĩ mình ghi Pali ra đây, vì bên PG Tích Lan cho rằng bài kệ này là gần giống như câu thần chú hộ thân, khi nào trong cuộc sống gặp sự rắc rối cần sự suôn sẻ, cứ chuyên tâm tụng câu này trong thời gian ngắn thì cái gì cũng xong. Nếu không giải quyết được thì tối thiểu cũng được sự yên tâm.
Nếu trong tiếng Việt có những bài thơ đọc từ dưới lên vẫn đầy đủ ý nghĩa và giữ nguyên nghĩa thì bài thơ Pali này cũng đặc biệt như vậy.
HT Thích Minh Châu dịch Việt:
Cửa bất tử rộng mở, cho những ai chịu nghe.
Hãy từ bỏ tín tâm, không chính xác của mình.
Tự nghĩ đến phiền toái, Ta đã không muốn giảng,
Tối thượng vi diệu pháp, Giữa chúng sanh loài Người.
(Ôi Phạm thiên)
Sư GN dịch:
"Cánh cửa bất tử nay đã được mở ra, những ai có tai để nghe xin mở rộng niềm tin của mình. Từ lâu lắm rồi (pagunam: thời gian rất dài) chỉ nghĩ đến chuyện mệt mỏi (Vihimsasaññī), nên ta đã không có nói pháp vi diệu cho chúng sinh, này Phạm Thiên (Brahme). Dịch ngược lại từ hàng cuối cùng lên nghĩa vẫn giống nhau: Này Phạm Thiên, từ lâu lắm rồi, chỉ nghĩ đến mệt mỏi, pháp này là pháp ngược dòng, nói cho người nghe không phải là chuyện dễ dàng, đơn giản, nên ta đã không có lòng nói pháp.
Câu Pāḷi này đặc biệt là dịch ngược từ hàng cuối cùng và chữ cuối cùng, câu số 1 xuống câu số 4 và câu số 4 lên câu số 1 đều nghĩa giống nhau; đọc ngược cũng được đọc xuôi cũng được, chính là lý do giúp cho mọi sự được suôn sẻ giống như bài kệ này, trên xuống hay dưới lên, kiểu nào cũng ok." (Trích NKCBK)
Đó là những gì thú vị của bài kinh. Mời quí vị thưởng thức Pali -Việt ở đây:

Wednesday, December 22, 2021

KESAMUTTI (KĀLĀMA SUTTA)

Kinh Tạng thì có 25 cuốn, trung bình mỗi cuốn là 500 trang. Tìm hiểu tới nơi tới chốn thì chúng ta thấy rằng có một mối quan hệ rất chặt chẽ không thể tách rời giữa A-Tỳ-Đàm và Kinh Tạng. Đó là không có A-Tỳ-Đàm thì không hiểu được kinh tạng. Học gì thì học nhưng hãy nhắm tới 3 điều sau. Thứ nhất học để mà tìm mối liên hệ giữa 3 Tạng với nhau. Chứ còn học đến một lúc nào đó mà không tìm thấy quan hệ giữa 3 Tạng, học Tạng này bài xích Tạng kia là sai. Lời Phật là chỉ có một luồng thôi. Thứ hai, học để tìm thấy sự liên kết giữa lý thuyết và thực hành, giữa nhận thức và hành trì. Nếu học mà tới lúc nào đó mình muốn buông lúc nào thì buông, không thấy sự tương quan giữa cái học và cái hành là học sai. Thứ ba, học, hành và thấy có ý nghĩa ứng dụng là học đúng. Còn nếu học mà không thấy nó giúp mình được cái gì hết, không giúp mình hóa giải được vấn đề gì trong tâm tư và đời sống là mình học sai.

Như vậy, học giáo lý để tìm được mối tương quan giữa 3 tạng, học để tìm mối tương quan giữa học và hành, và học để được an lạc. Học đạo mà được an lạc là học đúng. Còn học làm sao mà giống như học Toán, Lý, Hóa chỉ nhét cho đầy cái đầu mà không tìm được sự chuyển hóa cho bản thân là học sai.

Nếu chúng ta không tin Phật thì thôi, còn nếu tin Phật thì chúng ta phải tin rằng thân người rất là khó được. Một ngày chúng ta sống với tâm hồn con người không bao nhiêu hết, mà chúng ta sống với tâm hồn sa đọa thì nhiều.

Và chánh pháp khó gặp. Nếu thân người khó được thì có nghĩa là người lành rất khó gặp.

Thân người khó được vì cái thiện khó làm lắm, và vì vậy người thiện khó kiếm. Từ đó, chuyện gặp đức Phật, gặp giáo pháp của đức Phật hay người hoằng dương giáo pháp càng hiếm. Bởi vì cái này dẫn tới cái kia. Cái thiện càng hiếm thì người thiện càng hiếm, mà đức Phật là thiện của thiện càng hiếm thay.

Cho nên, thân người thì khó được, chánh pháp thì khó gặp, nếu mình mang thân người được gặp giáo pháp mà mù tịt giáo pháp thì quá uổng.

Theo trong A-Tỳ-Đàm, một công đức được thực hiện có trí tuệ đi kèm thì công đức đó mới lớn.

Trí tuệ người này khác người kia, trí tuệ gồm: Văn, Tư, Tu. Trí văn là trí tuệ có từ nghe, đọc, học từ người khác. Trí tư  là thấm thía, suy diễn, suy luận trên nền tảng kiến thức. Trí tu là sự hiểu biết dựa trên nền tảng thực chứng của thiền định, thiền tuệ.

Tại sao trí tu phải dựa vào thiền định, thiền tuệ? Bởi vì muốn đắc Sơ thiền là phải trừ 5 triền cái. Trừ 5 triền cái thì trí mới sáng được, mới đắc được Sơ thiền. Người đắc Sơ Thiền mới có điều kiện đắc Nhị, Tam, Tứ, Ngũ thiền. Người đắc Nhị, Tam, Tứ thiền mới có khả năng thấy ra được cái điều người không có thiền không thấy được. Đó là nói về thiền chỉ (thiền định).

Còn về thiền tuệ, xưa giờ mình không biết sự cấu tạo vận hành, cái duyên khởi của thân tâm này. Khi mình học Phật pháp -- đặc biệt là A-Tỳ-Đàm rồi ứng dụng vào pháp môn Tứ Niệm xứ thì mình thấy rõ bản chất, cấu trúc, vận hành của thân, tâm này nó ra sao. Ta thế nào người khác như vậy. Và khi hiểu chúng sanh được cấu tạo, được vận hành như thế nào thì mình hiểu luôn vũ trụ được cấu tạo, vận hành như thế nào.

Cho nên bắt buộc chúng ta phải có 3 loại trí Văn Tư Tu. Công đức của mình khác nhau tùy thuộc Văn, Tư, Tu của mình nhiều ít sâu cạn rộng hẹp thế nào. Ví dụ, cũng cùng bỏ tiền ra xây chùa, in kinh, đúc tượng, đúc chuông, nhưng người có kiến thức Phật pháp họ làm với nhận thức khác với người chỉ thuần túy niềm tin.

Nếu mình đến với Đạo bằng sự nhận thức, sự hiểu biết thì mai này trời có sập xuống mình vẫn cứ thờ Phật, vẫn cứ thờ Pháp. Còn nếu như mình đến với Đạo chỉ thuần túy niềm tin, mai này niềm tin của mình bị trục trặc bị thử thách là mình buông Đạo ngay. Khi mình đến với đạo thuần túy là niềm tin thông qua một cá nhân, một tập thể nào đó thì một lúc nào đó khi cá nhân, tập thể đó không được như mình nghĩ qua con mắt quan sát hay qua thị phi tai tiếng thì lập tức toàn bộ niềm tin Tam Bảo bị sụp đổ ngay. Bởi vì niềm tin Tam Bảo của mình ngay buổi đầu được thiết lập xây dựng trên nền tảng niềm tin thuần túy, niềm tin thiếu trí. Cho nên, đây là lý do vì đâu chúng ta phải học giáo lý.

Chỉ có học giáo lý chúng ta mới có cái nhìn khác đi về thế giới này. Bởi vì thế giới này ra sao, tùy thuộc cái nhìn của mình. Cũng cuộc đời này, cũng trái đất, hành tinh này, cũng cây cỏ, đất đá, đại dương kênh rạch, sông ngòi, con người, chim muông này… nhưng anh mù bẩm sinh cảm nhận thế giới khác, anh bị điếc bẩm sinh cảm nhận thế giới khác, anh bị tâm thần bẩm sinh cảm nhận thế giới này khác nhau. Chưa hết, người bị bao tử, bị bệnh trĩ, bị sỏi thận cảm nhận thế giới này khác với người thường xuyên bị nhức đầu, chóng mặt, cao máu. Khi chúng ta có một vấn đề về tâm sinh lý -- thân thì bệnh, tâm có mối âu lo nội kết nào đó -- thì cái nhìn chúng ta về thế giới đương nhiên không giống người khác. Lúc bấy giờ chúng ta nhìn qua lăng kính của bản thân.

Phật pháp cũng vậy. Khi biết Phật pháp thì cái nhìn chúng ta về bản thân, về những người chung quanh, về thế giới, về vũ trụ, về dòng chảy luân hồi đương nhiên có khác. Vì Phật pháp cung cấp cho ta một cái nhìn. Kiến thức nào cũng vậy hết, thêm một kiến thức -- về hóa chất, vật lý, đại số, hình học, lượng giác v.v... -- thì cái nhìn của mình về thế giới chắc chắn khác người ta. Đơn cử cái khoản logic. Với cái logic trong đầu, cái thằng giỏi Toán Lý Hóa nó suy nghĩ và nhìn thế giới khác người khác cho dù trước mắt nó học xong chỉ về làm chuồng gà chuồng heo cho vợ. Đó là chuyện ngoài đời. Còn trong Đạo, khi mình có kiến thức Phật pháp thì cách nhìn hay cảm nhận của mình về bản thân, về cuộc đời đương nhiên phải khác đi. Đạo Phật cung cấp cho mình cái nhìn. Thứ nhất là sự cảm thông, chia sẻ. Thứ hai là khả năng khả năng thông thoáng, không bị giam hãm trong các định kiến. Học Phật cho đúng là không bị giam hãm trong định kiến. Thứ ba là vượt thoát khỏi cảnh giới, trình độ hiện tại của bản thân. Đây là điều rất đặc biệt. Vì cái nguy nhất của thế giới phàm phu là ‘đụng đâu dính đó’. Sinh ra, lớn lên trong môi trường hoàn cảnh nào thì thường người ta bị giam hãm dính mắc, bị vướng kẹt trong đó, người ta không nghĩ đó là cái nhà tù của mình. Bi kịch của chúng sanh phàm phu là sinh trưởng trong môi trường nào thì thường bị giam nhốt trong môi trường đó. Kể cả những người có bằng cấp có học vị, giàu có, tiếng tăm, quyền lực, uy tín. Họ tưởng thế giới của họ ngon lành hơn thế giới của người nghèo người dốt. Chẳng qua là nhà tù của họ lớn hơn và sợi dây đang xích xiềng họ bằng vàng, chỉ vậy thôi. Phòng giam 10 mét vuông hay 100 mét vuông chỉ khác nhau rộng hẹp, nhưng vẫn là nhà giam. Sợi dây xích dầu bằng sắt sét rỉ hay bằng vàng khối chỉ khác nhau về chất liệu chớ vẫn giống nhau về tác dụng, đó là giam hãm một đời người. Cái nguy hại nhất của phàm phu là hài lòng với nhà giam chính mình. Mình bị giam nhốt trong sự hài lòng, mình bị giam nhốt trong sự bất mãn tức là bị giam nhốt trong cái thích và cái ghét. Khi mình ghét cái gì dầu người hay vật thì lúc đó, mình đã tự giam nhốt trong một thế giới định kiến, thành kiến. Và khi mình thích cái gì mình cũng tự giam nhốt mình trong thế giới của định kiến.

Cho nên đây là lý do vì đâu chúng ta phải học giáo lý. Học để tự tháo cởi, tự giải thoát, tự khai phóng bản thân mình. Đừng bao giờ nghĩ học Phật pháp vì nghe nói Phật pháp là lời Phật. Mà Phật là vĩ đại, Phật là linh thiêng, vậy học lời Phật có phước. Vậy là chết rồi. Đức Phật không muốn mình học Ngài như học bùa. Không phải. Ngài chia sẻ cho mình những tia sáng, những góc nhìn. Ngài chia sẻ cho mình những chiều cao, chiều sâu, chiều rộng để mình nhìn thế giới tốt hơn. Mình khổ là vì mình hiểu lầm. Mình khổ là vì mình tự giam nhốt mình trong môi trường sinh trưởng. Mình học Phật pháp thì Phật pháp cung cấp cho mình cái nhìn vượt thoát khỏi định kiến. Điều đó rất quan trọng.

Chúng ta sẽ học Kinh Tạng bằng Commentary, sớ giải của kinh, không phải học Kinh Tạng thông qua tư kiến người giải thích. Ai đó nói rằng “ôm chặt từng trang kinh là chấp thủ” thì tôi cũng đành chịu. Nhưng phải nói rằng, nếu đọc Kinh Tạng mà không thông qua Chú giải, mạnh ai muốn giải thích kiểu nào tùy ý thì đạo Phật mất từ lâu rồi.



KINH KALAMA.

Bài kinh này còn có tựa nữa, bà con có thể Guk chữ ‘Kesamuttisutta. Bài kinh này có hai tựa: Kalama sutta và Kesamutti sutta.

Kesamutti: không có tóc, người không có tóc.

Nội dung bài kinh này được rất nhiều người Âu Mỹ xem là cánh cửa dẫn vào đạo Phật. Bởi vì, tuyệt đại đa số người Âu Mỹ lớn lên trong bối cảnh văn hóa Cơ Đốc. Ai lớn lên trong bối cảnh văn hóa Cơ đốc giáo đều biết câu này của Thánh kinh: “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Trong khi Phật giáo có câu ngược lại “Chớ vội tin những gì được truyền khẩu, truyền tụng, được đồn đại, kể cả những điều được xem là dòng thông tin chính thống được ghi chép trong kinh điển khả kính thiêng liêng. Cũng đừng vội tin vì điều đó được truyền dạy bởi một người mình gọi là sư phụ. Cũng đừng vội tin chỉ vì điều đó hợp với nền tảng kiến thức xưa giờ của mình, hợp với kiểu suy tư của mình. Cũng đừng vội tin vì điều đó được rao giảng bởi một người mình nhìn qua đã thấy thích. Đây mới là điều đặc biệt. Coi chừng những điều mình tin chỉ vì nó được phát biểu bởi những con người nhìn qua đã thấy thích.

Tôi không theo dõi showbiz Việt Nam, nhưng có một người ngẫu nhiên tôi biết và có cảm tình. Đó là Tinna Tình. Nói theo ngôn ngữ thế gian, cô này đẹp. Không biết bây giờ cô làm nghề gì, nhưng vì nhân duyên sao đó mà hôm nay cô trở thành môn đồ của Phật giáo Mật Tông. Cái mà tôi thích cổ không phải chỉ vì cổ đẹp. Giọng nói của cổ là xuất sắc rồi. Tôi quý cổ vì cổ là người Việt Nam và duy nhất đầu tiên -- có thể không phải cuối cùng -- có khả năng học thuộc lòng vô số thần chú bằng tiếng Phạn. Cổ phát âm tiếng Sanskrit rất chuẩn. Thuộc làu làu. Và tôi thích thầy Pháp Hòa lắm. Mặt thầy đẹp mà lành lắm. Thầy không phải đẹp như tài tử nhưng ánh mặt, nụ cười, giọng nói, cách diễn đạt của thầy mình tin được. Một người nói chuyện chừng mực, cẩn trọng, có trách nhiệm lắm. Tôi mới nghĩ trong bụng: Chết rồi, nếu mình không có biết gì hết mà mình gặp 2 vị sư thái và sư tổ này là mình mê chết luôn, dám ho ra tôi cũng ghi âm về mà nghe lắm.

Một lần, Thế Tôn đi đến một địa phương, dân chúng nhìn thấy Ngài là họ chịu rồi. Họ nhìn thấy mấy chục hảo tướng lộng lẫy, lung linh, lấp lánh, rồi thấy tăng đoàn đoan nghiêm pháp tướng, lục căn thanh tịnh, họ chịu quá. Họ ra tiếp đón Thế Tôn và tăng đoàn.

Họ thưa với Ngài: Chúng con ở đây có cơ hội gặp gỡ rất nhiều các vị tôn sư của các đạo giáo mà khổ nỗi vị nào cũng nói mình là số 1 hết. Hôm nay chúng con gặp Thế Tôn, chúng con muốn hỏi, chúng con phải làm sao khi có quá nhiều chọn lựa như vậy? Chúng con rất hoang mang, xin Thế Tôn giúp chúng con.

Đức Phật trả lời:  Các ngươi hoang mang là đúng, phân vân lưỡng lự là đúng. Ai trong hoàn cảnh đó cũng phải vậy thôi. Tuy nhiên, đây là những điều các ngươi cần tâm niệm:

1. Chớ vội tin những điều gì đó vì đó là lời truyền khẩu.

“Này đại chúng Kālāma, chớ vội tin điều gì chỉ vì đó là lời truyền khẩu. Chớ vội tin chỉ vì đó là truyền thuyết; chớ vội tin chỉ vì đó là điều truyền tụng; chớ vội tin chỉ vì điều đó được truyền thừa trong kinh điển…”

Nếu quý vị để ý, ở đây chúng tôi cố ý để 4 chữ ‘truyền’: truyền khẩu, truyền thuyết, truyền tụng truyền thừa.

Từ điểm A dời qua điểm B gọi là truyền.

Ví dụ trong tiếng Hán có chữ  ‘cổ’ ( 古), trên là chữ ‘thập’ () , dưới là chữ ‘khẩu’ (). Chuyện gì được khoảng 10 cái miệng nhắc tới nhắc lui truyền qua truyền lại là thành ra chuyện xưa. Dễ nhớ lắm. Thế giới này là sự trao truyền và tiếp nhận. Tôi có thể khẳng định toàn bộ nền văn minh nhân loại là hành trình của trao truyền và tiếp nhận thôi. Kẻ trước nói cho kẻ sau, cứ thế mà làm nên văn minh, dầu đó là triết học, đạo học, khoa học, văn hóa, tôn giáo, chính trị hay bất cứ lãnh vực nào trên thế giới tất thảy đều là hành trình của trao và nhận. Vấn đề là kẻ trao không phải kẻ nào cũng giống nhau, và trình độ người nhận không phải lúc nào cũng giống nhau. Đây chính là đỉnh điểm của tất cả vấn đề.

Kẻ trao có nhiều loại. Có người trao châu ngọc quý kim bảo thạch, có người trao toàn thuốc độc. Kẻ nhận cũng vậy, có nhiều khi người ta trao quý kim bảo thạch mà mình không biết, cách đón nhận theo hướng của mình diễn dịch, có khi lấy chậu vàng đựng phân cũng có.

Đức Phật xác nhận thế giới này là thế giới của trao và nhận. Mình là người nhận thì mình phải cẩn thận.

Etha tumhe, kālāmā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.

Anussavena’ nghĩa là nghe nói qua nói lại.

Ở nhà có chuyện buồn, nghe ai đó nói lên miểu bà chúa xứ cầu linh lắm, nghe nói có cái chùa nào cầu linh lắm, nghe nói có ông thầy bói thầy bùa, phong thủy gì đó linh lắm. Nghe nói qua nói lại, rồi chạy theo gọi là anussavena.

Paramparāya.

Anussavana có nghĩa là nói qua nói lại tạm thời thôi, nhưng paramparāya là cái lâu ngày đi vào trong dân gian, như thành ngữ, tục ngữ, ca dao, nó cũng có sức hút lớn lắm. Tự nó có sức thuyết phục và gần như mặc định. Có nghĩa là cái gì được truyền khẩu lâu đời nó cũng trở thành một thứ tôn giáo, một thứ kinh điển dân gian, chứ không phải không.

Nhiều câu mình học được từ trong chùa hay ngoài xã hội lúc đầu chỉ là câu tiện miệng người ta nói thôi. Lâu ngày được nhắc đi nhắc lại thành suông miệng. Từ tiện miệng chuyển qua suông miệng. Cuối cùng nó thành câu cửa miệng. Ví dụ đây là những câu hãy cẩn trọng khi nói: Đời cha ăn mặn đời con khát nước; Con gái nhờ đức cha, con trai nhờ đức mẹ; Nhất nhơn hành đạo cửu huyền thăng; Phục vụ chúng sanh cúng dường chư Phật; Hạnh hiếu là hạnh Phật; Dẫu xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người;

Câu “Đời cha ăn mặn đời con khát nước” nguyên thủy chỉ dùng để nhắc định lý nhân quả thôi. Thế giới này là hành trình thừa tiếp. Mỗi người đến và đi để lại di sản gì đó thì đời sau theo đó mà tiếp nhận truyền thừa. Những gì mỗi người dựa vào đó mà sống được thì cũng được truyền lại từ thế hệ trước. Và dầu muốn dầu không, khi chúng ta tắt thở, chúng ta cũng để lại cái gì đó, hoặc tốt hoặc xấu cho đời sau. Câu “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước” phải hiểu mới vậy thì mới chuẩn. Đằng này lại bị người ta hiểu lệch. Mà khổ thay cái lệch đó được kế thừa bền bỉ, bền vững. Người ta hiểu nhầm là nếu cha mẹ thất đức thì con lãnh đủ. Từ đó nó đẻ ra câu “Con gái nhờ đức cha, con trai nhờ đức mẹ”…

Xem tiếp ở đây: http://vn.nhungkyniemxua.com/ 

Saturday, August 28, 2021

THỜI ĐIỂM (Paṭhamasamayasutta)



(Xem chánh kinh: )

Bản tiếng Việt dịch là “Các thời gian”, nhưng theo trong nội dung thì mình phải sửa lại là kinh Thời Điểm. Cái tựa Thời Điểm rõ nghĩa hơn, chữ ‘samaya’ có nhiều nghĩa, nhưng ở đây có nghĩa là thời điểm.

“Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn: Có bao nhiêu thời gian để đi đến yết kiến Tỷ-kheo đã được tu tập về ý? Có sáu thời gian, này Tỷ-kheo, để đi đến yết kiến Tỷ-kheo đã được tu tập về ý. Thế nào là sáu?”

‘Cittabhāvanā’: tu tâm; ‘Manobhāvanā’: tu ý (cũng có thể dịch là ‘tu tâm’, cũng không sai).

Đức Phật dạy có những thời điểm thích hợp cần thiết cho cái chuyện mình đi đến gặp gỡ một người đã tu tập thành mãn, tu tập tới nơi tới chốn.

Quí vị có còn nhớ bài kinh Maṅgalasutta? Trong kinh đó có hai chỗ cần lưu ý cho bài kinh đang học, đó là “kālena dhammassavana” (tùy thời nghe pháp) hoặc là “kālena dhammasakaccha” (tùy thời đàm luận giáo lý). Rất nhiều người không hiểu chữ ‘kālena’ (tùy thời) nghĩa là sao. Trong kinh này Đức Phật giải thích:

Trong đời sống, chúng ta rất cần đến sự hỗ trợ từ người khác, đặc biệt là các vị minh sư thiện hữu, chứ chúng ta không thể nào tu một mình. Có sáu thời điểm thích hợp để chúng ta tìm đến học hỏi thỉnh ý với một vị đã tu tập đó là: Khi tâm ta bị ảnh hưởng, bị tác động, chi phối bởi năm Triền cái thì đó chính là thời điểm nên tìm đến vị đã có chiều dày tu tập.

Nếu đang vô sự thì thôi, còn nếu có một trong năm triền cái xuất hiện thì đó chính là thời điểm nên tìm tới vị ấy. Đương nhiên là chúng ta không cần thiết phải làm chuyện đó nếu chúng ta tự có khả năng dàn xếp giải quyết. Nhưng sở dĩ Ngài nhắc như vậy bởi có nhiều người khi có phiền não gì đó hoành hành chi phối tác động thì họ cứ ngồi gồng và chịu đựng. Đây là chuyện rất là không nên. Bởi vì có những trường hợp chúng ta đối diện với nó rồi giải quyết nó, mọi chuyện coi như suôn sẻ. Nhưng cũng có trường hợp chúng ta không có khả năng đó, chúng ta cần đến sự hỗ trợ của thầy bạn.

Chúng ta không nên tụ tập họp mặt một cách vô nghĩa vô ích. Chúng ta chỉ nên tìm đến với ai đó với một ý nghĩa thật sự là cần thiết, với một lý do một mục đích đàng hoàng cho chuyện tu tập, chứ chúng ta không thể tụ năm tụ ba tìm nhau để giải khuây, để tìm vui, để bớt buồn, để khuây khỏa.

Khi tìm đến thầy và bạn trong những thời điểm đó thì sự hỗ trợ của thầy bạn mới thật sự có ý nghĩa, có hiệu quả.

Ví dụ như mình biết vị đó giỏi, có điều kiện thì mình cũng nên lui tới gặp gỡ, nhưng có nhiều trường hợp cái tâm của chúng ta chưa sẵn sàng đón nhận gặp thì gặp vậy thôi chứ chúng ta không học được nhiều. Điều quan trọng là khi chúng ta gặp phải vấn đề, gặp phải sự cố trong tu học, thì sự gặp gỡ ấy mới thật sự có hiệu quả, có ý nghĩa.

Chẳng hạn mình đang ngồi thiền, mình nghe có một vị danh tăng hay thiền sư nào đến, có thể mình tới đảnh lễ, nhưng ý nghĩa hơn là mình vẫn tiếp tục sống chánh niệm với một mình mình. Mình chỉ nên gặp khi nào việc đó là thật sự cần thiết, thật sự hỗ trợ cái gì đó cho chuyện tu học. Có rất nhiều người sẵn sàng bỏ hết miễn là gặp gỡ được một người nổi tiếng, gặp gỡ một danh nhân, một danh tăng. Theo tôi đó không phải là chuyện cần thiết. Đối với một hành giả Tứ Niệm Xứ thứ thiệt chỉ có chánh niệm là chuyện lớn, chỉ có tu tập là chuyện lớn, ngoài ra gì cũng là nhỏ hết. Đó mới gọi là một hành giả miên mật, một hành giả tinh tấn chuyên cần. Bài kinh này có nhiều ý nghĩa mà mình phải lưu ý.

(1) Khi bị dục tham chi phối

Khi nào mình bị dục tham chi phối, chi phối đến mức độ tự mình không thể giải tỏa được là mình phải tìm đến minh sư thiện hữu để được họ dạy cho những đề mục cần thiết. Chú giải ghi rất rõ, ví dụ như đang bị nặng lòng với tham dục (tình cảm nam nữ, nhu cầu vật chất, ái luyến xác thân) thì nên tu tập, nên được nghe nhiều về đề mục bất mỹ bất tịnh. Quán bất mỹ bất tịnh là tu hai đề mục: xác sống và xác chết. Xác sống là 32 thể trược, còn xác chết là các giai đoạn phân hủy của một tử thi. Thân mình chỉ là cái xác mà thôi. Đó là lý do tại sao trong trường hợp gọi chung một con người không xác định thì người Mỹ gọi là body, anybody, everybody. Con người đầu tiên chỉ là cái xác mà thôi, còn cái tinh thần thằng xấu thằng tốt thằng trí thằng ngu thằng dốt hay thằng giỏi thì chưa biết. Con người đầu tiên chỉ là cái xác cái đã. Quán đề mục bất mỹ bất tịnh là chúng ta quán về bản chất của xác sống và xác chết:

- Ngay khi cái thân này còn chưa chết thì nó đã là cái khối bất tịnh (tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu). Ngay khi còn sống, cái da là cái bọc bên ngoài được mình tắm rửa tô trét phấn son, nước hoa mỹ phẩm xà phòng, còn bên trong là một đống bất tịnh mà chính mình còn gớm của mình thì nói chi là người khác. Quán bản chất của xác sống là có lòng nhờm gớm như vậy đối với cái thân này khi còn sống.

- Còn quán niệm về xác chết là cái thân này dầu có đẹp cách mấy thì khi tắt thở rồi nó phải trải qua các giai đoạn phân hủy từ sình trương, biến sắc, đổi màu, chảy nước, rã rời, và cuối cùng trở thành bộ xương trắng. Tệ hơn nữa là phân hủy thành một nhúm bột mà thôi. Khi mình thường trực sống trong tâm niệm như vậy thì đối với tất cả các tham ái liên hệ tới dục (ví dụ như tình cảm nam nữ, nhu cầu vật chất, ăn ngon mặc đẹp v.v...) sẽ đình chỉ. Có nhiều khi mình biết như vậy nhưng lúc nó trỗi dậy mãnh liệt thì mình cũng phải tìm đến thầy bạn.

Tôi biết có những người họ bị những chuyện nghe rất là nhẹ nhưng lại nặng đối với họ. Chẳng hạn như chuyện ăn uống, cơ thể của họ có nhu cầu lạ lắm, đến giờ không ăn là chịu không nổi. Mình tưởng lầm đó là nhu cầu sinh học, nhưng thật ra phần lớn là do cái tâm của mình. Có trường hợp nữa là họ chỉ nghe cái mùi đó, nhắc cái tên của thực phẩm đó là họ đã ngồi thiền không được, ví dụ họ thích bánh xèo, họ thích sầu riêng, họ thích ăn món đặc biệt nào đó, khi nghe nhắc tới hay nghe mùi là họ chịu không nổi. Trong những trường hợp đó cũng rất là nên gặp thầy bạn để hỏi, hỏi bằng cách nào để mình không còn tiếp tục lệ thuộc vào chuyện ăn uống nữa.

(2) Khi bị sân tâm chi phối

Khi mình tự xét thấy sao lúc này mình nóng tánh quá, hoặc từ nhỏ đến giờ mình nóng tánh quá, mình không thể tu hành với một nội tâm luôn luôn sôi sục như vậy; nếu tự mình học giáo lý, tự mình tu tập chánh niệm mà mình vượt qua được, mình giải quyết giải tỏa được lấn cấn đó thì tốt. Nếu không thì tìm đến thầy bạn để họ hỗ trợ cho mình

Về mặt lý thuyết ai cũng tưởng mình biết, thì cứ tu tâm từ thôi! Nhưng không đơn giản như vậy đâu quý vị. Cũng lý thuyết đó nhưng mình được nghe thầy bạn nhắc lại từ miệng của họ chứ không phải là từ cái nhận thức của mình thì mình sẽ có được những thay đổi lớn hơn là tự mình ngồi gồng, tự giải quyết vấn đề với riêng mình. Có những chuyện tôi biết nhưng tôi phải được nghe người khác nói thì mới ép phê. Ví dụ ai cũng biết tập thể dục là tốt, ai cũng biết ăn rau trái là tốt, bớt dầu mỡ chiên xào là tốt… nhưng khi nghe nhiều người cứ nhắc đi nhắc lại thì mình mới thay đổi chế độ ăn uống, chế độ sinh hoạt. Chứ còn mình chỉ sống thuần túy bằng cái biết của riêng mình, sống quanh năm trong bốn bức tường với riêng mình thì coi như là mình khó mà có được những thành tựu. Trong khi đó chỉ cần nghe người ta nhắc lại thôi.

Vì vậy, khi tỳ kheo bị sân tâm chi phối (sân ở đây không chỉ riêng chuyện hờn giận căm ghét ai đó, mà sân ở đây là bất mãn trong năm dục, tức là bực bội người, cảnh, vật, chuyện này chuyện nọ) thì đề mục được gợi ý thường nhất là tu tập từ tâm. Và chúng ta cũng phải biết chuyện này, tôi cho rằng quí vị phải ghi lại cái này, đó là, khi nói đến chuyện đối phó tham dục thì trong kinh thường Đức Phật nhắc đến đề mục bất tịnh. Không phải đối phó với dục tham là chỉ có đề mục bất tịnh bất mỹ. Đây là những đề mục được Ngài gợi ý vì Ngài nhắm tới những đối tượng phổ thông phổ biến phổ cập chứ đây không phải là giải pháp duy nhất để giải quyết. Để đối phó với phiền não với năm triền cái, với tham dục, với bất mãn trong năm dục, với hôn thụy thì không chỉ có một cách. Ví dụ như một người chỉ có tu tập đề mục hơi thở, biết rõ hơi thở vào ra, biết rõ mình thở ra ngắn hay dài, biết rõ mình thở vào ra với cảm xúc gì, biết rõ mình thở vào ra với tâm trạng gì thì họ chỉ chuyên tâm đề mục đó, họ hoàn toàn có thể đối phó với năm triền, hoàn toàn có thể chấm dứt trăm phần trăm phiền não mà không mắc mớ gì tới từ tâm, không mắc mớ gì tới mấy chục đề mục bất tịnh bất mỹ hết.

Nhiều người không học kỹ cứ tưởng đối với tham dục, đối với niệm đam mê trong năm dục thì mình phải niệm bất tịnh bất mỹ, đối với tâm sân thì chỉ có một cách là tâm từ. Đó là hiểu sai. Bởi vì đó là những đề mục dễ kiếm và dễ hiểu mang tính gợi ý, mang tính tham khảo thôi. Chứ còn quí vị bắt buộc phải đồng ý với tôi là có người chỉ tu đề mục bốn niệm xứ, họ không chuyên về từ tâm, nhưng khi mình chuyên tu Tứ Niệm Xứ thì mình hoàn toàn có thể đè nén, trấn áp, giải tỏa được sân tâm. Phải tin chuyện đó. Không hề có phút giây nào họ tu tâm từ hết, họ chỉ chuyên tâm chánh niệm thôi, sân biết là sân, tham biết là tham, thiện biết là thiện, biết rõ tâm tư cảm xúc của mình. Chuyên tâm chánh niệm thì tự nhiên những cái đó cũng lắng xuống.

Sáu đề mục được nhắc đến trong đây là những đề mục mang tính gợi ý cho những trường hợp phổ biến. Nhiều người sơ cơ không biết đạo đọc vô kinh này họ hơi khó chịu, bởi họ thấy đang giận như điên mà bắt rải tâm từ sao rải nổi. Chính bản thân tôi cũng vậy, khi tôi đang nổi điên lên, tôi đang giận đang phiền đang buồn chuyện gì đó mà bắt tôi rải tâm từ tôi rải không được nhưng tôi niệm đề mục chết thì lại hết. Trong kinh cũng xác định như vậy. Chính quý vị cũng có thể kiểm chứng. Bất-cứ-đề mục-nào trong bốn niệm xứ cũng đều có thể giúp ta trấn áp và dứt điểm tuyệt đối phiền não, chỉ tùy mình tu ở mức nào thôi. Chứ không phải cứ là tu tâm từ để diệt tâm sân, tu bất mỹ bất tịnh để diệt tham dục. Đó chỉ là gợi ý cho những trường hợp phổ biến. Chứ cứ học bài bản kiểu vỡ lòng rồi đi cãi chày cãi cối thì phiền lắm. Người mình hay bị bệnh đó nặng lắm, không biết thì cãi theo kiểu dốt, hoặc mặc cảm tự ti tôi không biết gì, tới hồi biết ba mớ thì coi cái biết của mình là toàn bộ vũ trụ và chính mình là cái rốn của vũ trụ. Vậy là chết rồi. Hơn nữa, kinh nói như vậy nhưng mình phải động não suy tư xem có hợp lý hay không.

Như vậy khi nào vị tỳ kheo bị lòng bất mãn chi phối thì có đề mục gợi ý đó là nên tu từ tâm.

Khi có tín, tấn, niệm, định, tuệ thì tự nhiên mình có hướng giải tỏa khi các phiền não tấn công. Tự nhiên như vậy, chứ không nhất thiết phải từ tâm mới đối phó với tâm sân. Một người thường trực sống với trí tuệ và chánh niệm về danh sắc thì tự nhiên khi họ gặp cơ hội cần bố thí là họ bố thí liền, không cần phải tu từ tâm thì lúc đó mới bố thí. Họ cứ tu tập niệm xứ một cách miên mật, khi gặp cơ hội bố thí là tự nhiên họ có từ tâm, có tâm bi để bố thí. Khi chánh niệm và trí tuệ ngon lành rồi thì gặp chuyện cần nhẫn nại là họ nhẫn nại, cần phải yêu thương thì họ yêu thương, cần tha thứ là họ tha thứ, cần nhẫn cần xả thì họ làm được liền. Bởi vì với một nội tâm thành tựu được tín, tấn, niệm, định, tuệ thì thiện pháp nào cũng có. Tuy nhiên, tùy vào khuynh hướng tâm lý mỗi người mà khả năng thiện của họ tới đâu. Có những người khi sống chánh niệm, tu tập niệm xứ lâu ngày thì bất cứ cơ hội nào làm được điều thiện là họ không từ chối. Nhưng có những trường hợp có những người tu tập niệm xứ lâu ngày họ giữ giới rất tốt, họ phục vụ rất tốt, nhưng họ bố thí rất là yếu bởi vì bản tánh của họ là bủn xỉn keo kiệt rất nặng. Cho nên khi họ tu tập ngon lành, thiện pháp nào ở họ cũng phát triển được nhưng riêng khoản bố thí họ làm không được. Hoặc có những người do tánh cao ngạo tự đại quá nặng nên khi họ tu tập niệm xứ lâu ngày, thiện pháp nào ở họ cũng tự nhiên thành tựu, nhưng riêng cái khoản khiêm tốn cung kính người khác thì họ không có được.

Tất cả các hạnh lành của mình đều có thể tự phát trên nền tảng của chánh niệm và trí tuệ. Nhưng tùy vào căn cơ của mỗi người mà những thứ thiện pháp tự phát ấy cái nào mạnh hơn cái nào, cái nào yếu hơn cái nào. Học A-tỳ-đàm kiểu vỡ lòng thì mình rất dễ bị vướng kẹt, đây là 25 Tâm sở Tịnh hảo, đây là Tín, Niệm, Tàm, Úy, Vô tham, Vô sân, Hành xả, đây là Vô lượng phần, đây là Giới phần v.v... mình thấy nó là cái gì đó rất là độc lập. Nhưng thật ra trong thực tế tu chứng thì nó không máy móc như vậy. Khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần, nếu mình là một người có nền tảng chánh niệm và trí tuệ thì tự nhiên cái phản ứng của mình trước sáu trần sẽ mang tính tích cực hơn người không có tu tập. Tích cực nghĩa là, tự nhiên khi gặp hoàn cảnh cần tâm từ thì tự nhiên tâm mình có khuynh hướng là thương yêu là bao dung; mình gọi khuynh hướng đó là tâm từ. Khi mình thường xuyên tu tập Tứ Niệm Xứ thì khi gặp bối cảnh, môi trường, cần phải làm cái chuyện mà người ta thường làm chuyện bậy thì tự nhiên lúc đó mình không làm chuyện bậy. Tự mình có đủ tàm úy, tự mình có đủ điều kiện tâm lý để mình tránh, đó được gọi là Giới phần. Tự nhiên lúc đó có chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng đủ để cho mình không làm chuyện bậy. Khía cạnh tâm lý lúc mình không làm bậy đó được gọi là giới phần. Khía cạnh tâm lý lúc mình bao dung thương yêu người khác thì được gọi là từ tâm. Còn mình cứ khư khư học theo bài học vỡ lòng của con nít, mình thấy đó là những cái rất riêng biệt, khó tu tập. Thật ra đó là những phản ứng tâm lý rất tự nhiên của một người sống chánh niệm, cộng với ba-la-mật.

Khi anh có Ba-la-mật ngon lành rồi cộng với Tứ Niệm Xứ ngay trong hiện tại, gặp chuyện cần có Vô lượng phần là có ngay, gặp chuyện cần có Giới phần là có ngay, gặp chuyện cần có trí tuệ là có ngay. Đó là lý do vì sao một người cầu đạo giải thoát phải có ba-la-mật. Khi anh có ba-la-mật đầy đủ cộng với đời sống của hành giả Tứ Niệm Xứ ngay trong hiện tại thì phản ứng tâm lý của anh trước 6 trần rất là ngoạn mục, rất là tích cực, rất là hướng thượng. Tu là tu như vậy.

Hôm nay là chúng ta có dịp để nói hơi nhiều về mối tương quan chặt chẽ giữa kiến thức A-tỳ-đàm và pháp môn Tứ Niệm Xứ (Tuệ Quán). Khi ba-la-mật đầy đủ rồi ngon lành rồi, cộng với nếp sống hiện tại của mình là một hành giả Tứ Niệm Xứ thì phản ứng của mình trước sáu trần rất là tích cực. Mỗi khía cạnh tích cực ấy được Đức Phật gọi tên bằng những mỹ từ như tín, tấn, niệm, định, tuệ, kham nhẫn, hành xả v.v...

(3-4) Khi bị hôn trầm thụy miên, trạo cử phóng dật chi phối

Hôn thụy: buồn ngủ, làm biếng.

Các đề mục được nhắc đến trong đây chỉ là những gợi ý mang tính tham khảo cho những trường hợp phổ biến chớ không phải là duy nhất là tuyệt đối.

Chánh tạng không nói, nhưng trong Chú giải có cho những gợi ý như thế này và giải thích là Ngài muốn nói như vậy. Tôi thích bài kinh này ở điểm Ngài không nói rõ cách nào để đối phó tham dục sân hận hết. Những đề mục tôi nói nãy giờ toàn là Chú giải giải thích kinh này gợi ý như vậy, chứ Đức Phật không nói sống chết mình phải tu tập đề mục nào để giải quyết phiền não nào. Ngài chỉ nói chung chung thôi, còn Chú giải thì nói cụ thể:

- Khi bị tham dục chi phối thì tu tập đề mục bất mỹ bất tịnh trên xác sống xác chết.

- Khi bị sân tâm thì nên tìm đến vị có tu tập để họ nhắc nhở cho mình pháp môn từ tâm.

- Khi bị buồn ngủ, lười biếng thì nên tìm đến những vị đã chứng, để được hướng dẫn tu tập đề mục ánh sáng.

Đề mục ánh sáng là gì? Hành giả tự mình tự kỷ ám thị rằng tôi đang ngồi giữa ban ngày, tôi đang ngồi giữa một vùng ánh sáng. Vị đó để mắt để tâm vào một cái đốm sáng, một ngọn lửa, thay vì niệm lửa thì niệm ánh sáng: “sáng, sáng, sáng, aloka, aloka...” Hoặc cách thứ hai là tự kỷ ám thị “tôi đang ngồi giữa trưa nắng ngoài trời trống”. Khi suy niệm như vậy thì vị đó không buồn ngủ nữa.

 Trạo hối (uddhacca-kukkucca) là hai phiền não phóng dật hối hận cộng chung lại, lăng xăng không tập trung là trạo cử, hối là lòng ray rứt bất an về những chuyện mình đã làm và không chịu làm.

(5) Khi bị hoài nghi chi phối

Hoài nghi: hoang mang nghi hoặc; hoang mang không biết pháp môn này có đúng không, sư phụ dạy có đúng không, tu tập như vậy có dẫn tới kết quả gì hay không, người như mình tu hành có đắc gì hay không.

Nhiều vị định nghĩa hoài nghi trong 5 Triền cái mà gắn Tam bảo vô thì không được. Vì sao, vì muốn đắc được thiền thì anh phải tránh được năm triền cái. Có những lúc không có Phật ra đời người ta vẫn có đắc thiền. Muốn đắc thiền thì phải giải quyết được năm triền, trong đó có hoài nghi. Nếu định nghĩa hoài nghi mà có dính tới Tam bảo thì trong thời kỳ không có chư Phật ra đời người ta làm sao đắc thiền. Nhiều vị học một cái mẫu định nghĩa hoài nghi là hoài nghi trong Phật pháp tăng, hoài nghi trong Tam học, hoài nghi trong Bốn Đế, 12 duyên khởi. Định nghĩa đó rất đúng, nhưng trường hợp nào mình xài định nghĩa đó cho chữ hoài nghi. Có những trường hợp chúng ta không thể bê nguyên xi định nghĩa đó áp dụng cho chỗ khác.

Trong Chú giải nói để đối phó với hoài nghi thì tự mình, hoặc nên tìm đến vị đã có tu chứng để được dạy cho ân đức Tam bảo. Bài kinh này nói đến người đang sống trong thời kỳ Đức Phật. Trong trường hợp đó người đó phải được học kỹ hơn về ân đức Tam bảo, đây là những hành giả trong thời kỳ Đức Phật mà thôi. Còn nếu những hoang mang nghi hoặc của mình mà không liên hệ đến Tam bảo thì mình phải giải quyết nó theo hướng khác. Ví dụ hoài nghi về sư phụ, hoài nghi về pháp môn thì bắt buộc mình phải dùng kiến thức giáo lý, coi thử lời dạy của sư phụ, của cuốn sách đó, lời dạy đó, cái kỹ thuật hành trì đó có đúng với kinh điển hay không. Phần đó là phần của mình chứ không thể nào đi nhờ người khác được.

(6) Khi tâm bị vướng kẹt trong năm triền

Sau khi nói đến năm triền cái thì Ngài dạy cái thứ sáu, đó là khi nào tâm bị vướng kẹt trong năm triền cái thì mình phải tìm đến vị đã đắc chứng, hoặc đang tu tập (Manobhāvanā: tu tâm tu ý).

 “8. Lại nữa, này Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo y cứ nơi tướng nào, do tác ý tướng ấy, các lậu hoặc được đoạn diệt, không có gián đoạn, vị ấy không biết, không thấy tướng ấy, trong khi ấy, sau khi đi đến Tỷ-kheo đã được tu tập về ý, vị ấy cần được nói như sau: "Thưa Hiền giả, y cứ nơi tướng nào, do tác ý tướng ấy các lậu hoặc được đoạn diệt, không có gián đoạn, tôi không biết không thấy tướng ấy.”

Chỗ này rất quan trọng, chúng ta không có ba-la-mật, chúng ta lại không có được nghe chánh pháp, chúng ta không được gặp minh sư thiện hữu đặc biệt là chư Phật, từ đó, khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần thì chúng ta luôn luôn sống trong cái ảo: cái này ngọt, cái này đắng. Chúng ta trốn chạy cái đắng, chúng ta đi tìm kiếm cái ngọt. Chúng ta có những phân biệt đây là nam, là nữ, là đẹp là xấu, cao thấp, trắng đen dài ngắn trong ngoài… chúng ta hoàn toàn sống trong chế định, hoàn toàn sống trong tục đế từ vô lượng kiếp. Những khía cạnh đó chỉ là hiện tượng của các pháp chứ không phải bản chất. Một người chứng thánh là phải có cái nhìn xuyên thấu bản chất của vạn hữu, đây là danh, đây là sắc, cả danh lẫn sắc đều do duyên mà có, có rồi phải mất. Đó là thấy được các pháp qua khía cạnh bản chất.

Chúng ta có hai cách để nhìn về thế giới này: nhìn nó trên lớp vỏ hiện tượng và nhìn vào bề trong bản chất. Ví dụ, nói theo bản chất, “đây là H20, đây là Oxygen”, còn nói theo hiện tượng: “đây là sương, đây là mưa, đây là hơi nước…”. Có học đạo, có tu tập thì chúng ta mới có thể nhìn thấu thế giới này qua bản chất. Còn không thì chúng ta chỉ sống trong hiện tượng mà thôi. Trong trường hợp đó Đức Phật gọi hiện tượng đó là ‘tướng’.

Khi chìm sâu trong khía cạnh hiện tượng, cũng một người đó mà khi thì mình nhìn để thương khi thì mình nhìn người đó để giận; nhưng đối với hành giả Tứ Niệm Xứ thì họ nhìn người đó họ đắc quả. Cũng hiện tượng đó, cũng vẻ ngoài đó, cũng ngoại tướng đó thôi, nhưng có người nhìn vào để khởi lên cái tâm thương thích tham ái. Có người nhìn hình ảnh đó, con người đó để bực mình bất mãn; nhưng có người nhìn con người đó để đắc quả. Nhìn mà để thương để ghét là anh bị kẹt vào cái hiện tượng rồi. Chỉ có hành giả quán chiếu trên khía cạnh bản chất nên anh ta mới chứng quả được.

Đoạn kinh này nói gì? Nhiều khi chúng ta sống quá nặng về hiện tượng, bắt buộc chúng ta phải tìm đến gặp các vị đang tu chứng hoặc đã thành tựu thì họ mới có thể hướng dẫn cho mình.

Mỗi người chúng ta đều có những đam mê, có người thích chơi tem, có người thích tiền xưa, có người thích sưu tập đồ cổ, có người thích sưu tập rượu, thuốc lá xì gà, nước hoa, hoặc xe v.v... Có một hành giả người Mã Lai rất mê chơi tem, khi anh ta đi tu tập trong thiền viện thì anh ta không còn chơi tem nữa. Đi tay không vào thiền viện thì lấy tem đâu mà chơi. Bữa đó vị thiền sư có việc xuống văn phòng, anh ta cũng xuống văn phòng, thấy trong thùng rác có cái bao thư trên đó có con tem rất là đẹp. Anh ta thò tay cầm lên coi. Vị thiền sư đứng kế bên. Anh ta nói: Con có một bộ sưu tập tem rất là lớn, rất là giá trị. Con tem này độc đáo, in đẹp và nguyên vẹn thế này, nếu cách đây chừng một năm mà gặp con tem này thì con có thể điên lên được. Bởi vì con tem này được gởi đến từ đất nước nhỏ nào đó mà chúng ta không có điều kiện sưu tập con tem loại này.

Vị thiền sư nói: Thế giới bao la đừng vùi chôn mình vào một mảnh giấy nhỏ như vậy.

Ngài chỉ nói như vậy thôi. Chính câu nói đó đã đánh động lay tỉnh anh hành giả đó. Từ đó về sau, rời thiền viện về anh không còn đụng tới tem nữa. Câu chuyện về anh hành giả Mã lai đó chính là điều thứ 6 trong bài kinh này. Khi chúng ta chìm sâu trong thế giới hiện tượng chúng ta không ra được. Lúc đó chúng ta cần đến một sự hỗ trợ tối thiểu từ ai đó. Ngài nói nhẹ nhàng thôi, thế giới này bao la lắm, đừng vùi chôn đời mình, con người mình, tương lai mình trong miếng giấy nhỏ xíu như vậy. Mặc dù người chơi tem có nhiều cách biện minh, “chơi tem là chúng ta đang chạm vào những thế giới của văn hóa, của lịch sử, của triết học, của tư tưởng của nghệ thuật v.v...” nhưng đó là cách nói của người chơi tem của người mê tem. Còn trong nhận thức của một hành giả Tứ Niệm Xứ thì đó chỉ là miếng giấy nhỏ xíu bằng ngón tay được dán lên trên phong bì để bưu tá viên theo đó gởi thơ giùm mình thôi.

Trong 5 trường hợp đầu khi tâm bị ám ảnh bởi 5 triền cái chúng ta cần đến sự hỗ trợ của minh sư thiện hữu đã đành rồi, mà trong trường hợp thứ 6, khi phát hiện ra mình đang sống quá nhiều, quá lậm, đang bị ghim sâu gắm chặt trong thế giới hiện tượng thì chúng ta cũng cần đến sự hỗ trợ của thầy bạn. Năm điều đầu là nói về thiền Chỉ. Riêng điều thứ 6 thuộc về thiền Quán. Năm điều đầu thuộc về Định, điều thứ 6 thuộc về Tuệ.

Đọc kinh mà đọc cho tới nơi tới chốn thì không kinh nào mà không quan trọng. Chẳng hạn như kinh này, nếu đọc một mình mình không ngờ nó lớn chuyện như vậy. Điều 6 là từng bước lìa bỏ thế giới hiện tượng để đi sâu vào thế giới bản chất. Trong vô lượng kiếp chúng ta đã chết lên chết xuống với thế giới hiện tượng, chúng ta bị mắc bẫy, chúng ta bị lừa dối với thế giới hiện tượng, từ đó chúng ta mới có thích (tham) và ghét (sân), tham sân ở đâu thì si núp lùm kế bên đó. Bây giờ biết Phật pháp rồi, có học có hành trì chúng ta không tiếp tục lún sâu chết chìm trong thế giới hiện tượng nữa.

(Cre: Nhị Tường)

 

Sống khôn thác thiêng

“Những gia đình nào mà có con cái hiếu thảo thì những gia đình đó được coi là gia đình [có] Phạm thiên”. Đó là câu trong bài kinh "Ngan...