Showing posts with label Sư Sán Nhiên. Show all posts
Showing posts with label Sư Sán Nhiên. Show all posts

Monday, July 10, 2023

GIÚP CHO CHÙA?



Điều đầu tiên trong phúc hành thiện sự là Dāna (Xả thí).

Đứng ở góc độ Phúc hành thiện sự, chúng ta nói mình làm Thiện. Tuy nhiên, về phía ba-la-mật (Toàn thiện) cũng có Dāna. Như vậy giữa thiện trong phúc hành tông và thiện của ba-la-mật có điểm nào khác biệt không?

Hãy nhớ khi chúng ta làm dana với tác ý (manasikara) là tạo thiện phước thì mình có quả phước. Quả phước gồm 3: sanh trở lại làm người, sanh về trời và giải thoát, tùy năng lực làm thiện của mình.

Còn khi chúng ta dana (xả thí) với tác ý ba-la-mật nghĩa là mình diệt một đạo quân ma. Trong người chúng ta có một đạo quân ma, chúng ta phải làm ba-la-mật để diệt, chứ không tạo phước nữa.

Trong các đạo quân ma, đầu tiên là Tham Dục. Tôi nhìn vô cái tham dục của tôi, tôi hành ba-la-mật xả thí,  tức là chúng ta dùng cái xả thí này để diệt đạo quân ma ẩn nấp trong con người của mình trong kiếp này, để mà thoát ra.

Tại sao gọi là Toàn thiện? Là bởi vì không còn mong cầu gì hết, chỉ muốn xả, buông, để mà giải thoát chứ không muốn hưởng.

Vì vậy khi chúng ta làm việc thiện -- Thiện hay toàn thiện-- chúng ta phải tác ý. Đức Phật nói phải có tác ý, chủ chốt cho mọi hành động. Nếu xả thí để diệt, thì hướng về phía Toàn thiện; còn để gieo trồng thì về phía Thiện, càng gieo càng hưởng, nhưng càng hưởng thì sẽ lún, nó sẽ trói cột mình.  

Vì tôi làm thiện để diệt Tham Dục của tôi, Dục lậu ngủ ngầm trong tâm tôi, tôi xả thí này để tôi buông, chớ không vọng móng gieo trồng để hưởng. Đứng góc độ làm thiện để diệt đội quân ma, diệt những pháp nghịch trong người của mình thì chúng ta làm ba-la-mật.

Chúng ta thường được nghe khuyến khích “làm phước đi con” mà không nghe nói “tu tập đi con”. Thậm chí người Phật tử đến chùa vẫn nói là họ đến để giúp chùa chứ họ đâu có nói họ đến để tu. Họ giúp người này người kia, giúp ông sư, họ toàn là ban bố, không bao giờ họ nói rằng họ tới chùa để tu.  Rồi khi họ không tới nữa, họ nói, chùa đó vong ơn bội nghĩa, tôi đã tới tôi giúp biết bao nhiêu. Họ cứ nghĩ tới chùa là làm phước, không nghĩ tới chùa là để tu tập. Có ai nói rằng Cấp-Cô-Độc, Visākhā tới chùa để làm phước giúp Đức Phật không? Không có. Vậy mà tư tưởng của nhiều người cứ nghĩ tới chùa để ban bố, trong chùa là toàn những người homeless vô gia cư, là cô nhi viện cần nuôi dưỡng. Từ đó họ nuôi dưỡng một suy nghĩ sai lầm là đến chùa để giúp chùa cứu chùa chứ không bao giờ nghĩ rằng tới chùa để học.

Tại sao lại như vậy? Tiên trách kỷ hậu trách nhân! Là bởi vì có những vị thầy vị sư đã làm như vậy, nên giờ đây người ta vơ đũa cả nắm, đến chùa để ban rải chớ không phải để tu để sửa thân ngữ ý của mình. Họ đâu có tác ý Toàn thiện mà chỉ có phước, sau này sanh thiên, hưởng hết. Họ không thấy được cái điểm chính yếu, họ sai lầm hết.  Sư tử trùng thực sư tử nhục! Đó là do những người trong chùa, người con Phật đã làm sai. Vì vậy nên mới có giới luật. Có 227 giới. Mỗi một giới luật đặt ra là từng vị con của Ngài, đệ tử của Ngài làm sai để rồi xã hội kêu rêu, nên Đức Phật gọi vào và bảo đừng làm như vậy nữa, và Ngài ban bố luật. Luật ra bao nhiêu là để dạy con của Ngài hoàn chỉnh lại và lo tu. Vậy mà Phật tử cứ nghĩ họ tới chùa là họ cho, họ bố thí, họ cứu giúp cho chùa, còn chùa thì phải van xin nịnh nọt để họ cho.

Nếu chúng ta hướng về phía bên trái (xem hình) thì chúng ta có phước nhân thiên; nhưng lại không tu ba-la-mật diệt cái tham dục của mình. Và khi đó không đủ để chúng ta chống nổi đội quân ma. Khi đội quân ma đánh vô là lủng thành trì liền.

Từ nay về sau chúng ta làm thiện là phải để diệt, chớ không để gieo để hưởng, không có đón nhận.

(Ghi lai rai bài PT65) 

Saturday, July 16, 2022

KINH TẠNG VÀ CHÚ GIẢI

 

I. Luật Tạng (Vinayapiṭaka) có 8 quyển. Chú giải là Samantapāsādikā (1)

 

II. Kinh tạng (Suttantapiṭaka) có 25 quyển:

1.Trường Bộ Kinh (Dīghanikāya) có 3 quyển. Chú giải là Sumaṅgalavilāsinī (2)

2. Trung Bộ Kinh (Majjhimanikāya) có ba quyển. Chú giải là Papañcasūdanī (3)

3. Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyuttanikāya) có 5 quyển. Chú giải là Sāratthapkāsinī (4)

4. Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttaranikāya) có 5 quyển. Chú giải là Manorathapūranī. (Hoàn Thành Điều Ý Nguyện) (5)

5. Tiểu Bộ Kinh (Khuddakanikāya) có 9 quyển.

- Tiểu Tụng Kinh (Khuddakapāṭha), có kinh sách Chú Giải gọi tên là Paramatthajotikā (Siêu Lý Quang Minh) (6)

- Pháp Cú Kinh (Dhammapada), có kinh sách Chú Giải gọi tên là

Dhammapadaṭṭha (7)

- Tự Thuyết Kinh (Udāna), có kinh sách Chú Giải gọi tên là Paramatthadīpanī (Siêu Lý Minh giải) (8)

- Như Thị Ngữ Kinh (Itivuttaka), có kinh sách Chú Giải gọi tên là Paramatthadīpanī (Siêu Lý Minh giải) (8)

- Kinh Tập (Suttanipāta) có kinh sách Chú Giải gọi tên là Paramatthajotikā (9)

- Thiên Cung Sự Kinh (Vimānavatthu), có kinh sách Chú Giải gọi tên là Paramatthadīpanī (Siêu Lý Minh giải) (10)

- Ngạ Quỷ Sự Kinh (Petavatthu), có kinh sách Chú Giải gọi tên là Paramatthadīpanī (Siêu Lý Minh giải) (11)

- Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā), có kinh sách Chú Giải gọi tên là Paramatthadīpanī (Siêu Lý Minh giải) (12)

- Trưởng Lão Ni Kệ (Therīgāthā), có kinh sách Chú Giải gọi tên là Paramatthadīpanī (Siêu Lý Minh giải) (13)

- Bổn Sinh (Jātaka), có kinh sách Chú Giải gọi tên là Jātakaṭṭhakathā (14)

- Đại Xiển Minh (Mahāniddesa), có kinh sách Chú Giải gọi tên là Saddhammapajotikā (Chánh Pháp Quang Minh) (15)

- Tiểu Xiển Minh (Cullaniddesa), có kinh sách Chú Giải gọi tên là Saddhammapajotikā (Chánh Pháp Quang Minh) (16)

- Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidāmagga), có kinh sách Chú Giải gọi tên là Saddhammapakāsinī (17)

- Thí Dụ Kinh (Apadāna) (Thánh nhân ký sự) , có kinh sách Chú Giải gọi tên là Visuddhajanavilāsinī (18)

- Chủng tộc chư Phật (Buddhavaṃsa), có kinh sách Chú giải gọi tê là Madhuratthavilāsinī (19)

- Tiểu Nghĩa Kinh (Cariyāpiṭaka) (Hạnh Tạng), có kinh sách Chú Giải gọi tên là Paramatthadīpanī (Chánh Pháp Minh Giải) (20)

Thêm:

-[Cẩm Nang Học Phật (Nettipakaraṇa)]

-[Tam Tạng Chỉ Nam (Peṭakopadesa)]

-[Milinda Vấn Đạo (Milindapañhā)

 

III. Vô Tỷ Pháp Tạng (Abbhidhamma Piṭaka) có 12 quyển và Kinh Sách Chú Giải gồm: 

(a) Bộ Pháp Tụ (Dhammasaṅgani) có kinh sách Chú giải tên là
 Aṭṭhasālinī (21)

(b) Bộ Phân Tích (Vibhaṅga) có kinh sách Chú giải tên là Sammohavinodanī (22)

(c) Bộ Ngữ Tông (Kathāvatthu)

(d) Bộ Chất Ngữ (Dhātukathā)

(e) Bộ Nhân Chế Định (Puggalapaññatti)

(f) Bộ Song Đối (Yamaka)

(g) Bộ Phát Thú (Paṭṭhāna)

Từ bộ (c) – (g) có Kinh sách Chú giải kết tập lại với nhau gọi là Paramatthadīpanī (Siêu Lý Minh giải), một vài nơi gọi là   Pañcappakaṇaraṭṭhakathā (Chú giải Bộ Ngũ Kinh) (23)

Cả 45 quyển Kinh Tam Tạng có 23 quyển Kinh Sách Chú giải.

Saturday, July 24, 2021

GIỜ THỨ 25

 

Ở VN, Thái Lan, Miến Điện bây giờ khổ lắm. Đâu có ngồi tu được, có yên đâu mà ngồi tu. Nhất là bên Miến Điện. Miến Điện là mảnh đất thanh bình, núi non sông biển hồ ao chỗ nào họ cũng tu. Chùa chiền khắp nơi, người dân nào cũng tu. Bây giờ thì coi như phúc bất trùng lai họa vô đơn chí. Họa ập vô một cái là không có đỡ được.

Như bên Florida, cái tòa nhà cao, sụp xuống đổ nát chết chóc mất   mát biết bao nhiêu. Mà nơi đó là foreigner nhiều lắm, toàn người nước ngoài.

Cái dòng La San Mai thôn bên cư xá Thanh Đa, tức là của mấy frère già La San Taberd ở đó. Khi các frère còn dạy học thì ở trường La San Taberd -- hồi xưa Sư học ở đó -- còn khi lớn tuổi về hưu thì họ dời các frère về cư xá Thanh Đa, trên sân thượng là nhiều phòng cho các frère. Sư có tới đó thăm. Các frère già không còn biết, họ đẩy xe ra. Nơi đó là ở bên dòng sông, đẹp lắm. Một đêm người ta nghe rắc rắc rắc rắc. Dòng sông Thanh Đa là dòng sông xoáy ngầm, nó giựt nguyên một tòa nhà bốn tầng lầu trong đó có ba frère già đang ngủ. Một frère còn thức đọc sách, nghe rắc rắc nhìn xuống thấy nước lên tới cửa sổ. Frère ‘búng’ ra ngoài, cái tòa nhà đã mất cái chưn rồi từ từ sụt xuống dòng sông, cuốn hai frère già theo dòng nước luôn. Frère kia bơi vô, kể lại. Họa vô đơn chí. Florida cũng vậy, người ta đang ngủ mà tòa nhà sập. Lúc người ta đi tìm trong đống đổ nát, họ bắt loa kêu còn ai không, còn ai cần cứu không. Đứa bé ló bàn tay từ đống đổ nát ra. Tôi đây tôi đây. Mấy ông cứu hộ, kêu lên, ở yên đó, chúng tôi tới. Mấy ổng xách nó ra vác nó trên vai. Nó sống chung với mẹ, mà không biết mẹ nó ở đâu, giờ ra sao. Sư có coi cái phim đó. Sụp nguyên một tòa nhà xuống, người trong đó không biết sống còn ra sao.

Cho nên, đêm ngủ là quí vị phải có đủ các hành lý hết, hành lý là tư lương, không thể nào thiếu. Sau 1975, Sư có đọc một cuốn sách của nhà văn người Roumanie tên Gheorghiu, cuốn Giờ Thứ Hai Mươi Lăm (La Vingt-cinquème Heure), cuốn này được viết như một hồi ký của ổng. Sư đọc trong đó, lúc Liên Xô chiếm vô Đông Âu thì Roumanie trở thành một nước (XHCN) cũng thuộc Liên Xô. Gheorghiu nói, mỗi người dân chỉ biết mang một túi lương khô với mì, chút đậu phộng, hay đồ khô để đầu giường. Nghe tiếng gõ cửa là cầm cái túi đó lên mở cửa đi ra. Họ dắt đi luôn, không trở về.

Sư đọc cái đó rồi, khi sư vô tu sư thấy, ồ, Đức Phật dạy hay quá. La Vingt-cinquème Heure, đúng rồi đó. Ông Gheorghiu này cũng nói rồi đó, bây giờ với mình, khi quỷ vô thường tới hay chư thiên tới lôi mình đi thì chỉ có túi tư lương đó thôi. Chớ còn “Thân tôi tài sản tôi, người ngu nghĩ như thế, thân ta còn không có, con đâu tài sản đâu”, Đức Phật dạy. Do đó mình phải biết điều đó, khi giờ thứ 25 gõ cửa. Không có chối từ được, không có “đợi tôi chút, tôi nói chuyện này xíu, chờ tôi từ giã…” Không có đâu. Florida là không có từ giã. Đi. Mấy frère dòng Mai Thôn là không có từ giã. Đi. Giờ thứ 25 mình không biết được. Trừ phi quí vị ngồi thiền mà có định, cũng không biết được. Còn ngoài ra sống mà phóng dật thì không biết được cái kiểu gõ cửa của mình...

(Trích đoạn bài giảng Phóng Dật, tự nhiên nghe đến đây bấm pause, đi tới mở tủ sách tìm cuốn Giờ Thứ 25, thiệt là... phóng dật mà)



Wednesday, March 17, 2021

LÃNH ĐỊA CỦA TAM BẢO

 

‘Tự’ trong tiếng Pāḷi có hai chữ: Vihāra và Arāma. Khi nói đến hai chữ này chúng ta phải biết phân biệt.

Arāma là một cái pagoda/temple. Nhưng Vihāra phải là một cái monastery.

Vihāra là nơi tu tập, hay tu viện, gồm có hai cái chánh điện. Còn Arāma chỉ có 1 chánh điện mà thôi.

Vihāra chia làm hai chánh điện:

(1) Sīmā Hall, thánh điện, làm chỗ kiết giới

(2) Sālā Pālī, giảng đường, giảng dạy

Sīmā hall dành cho tăng (Sangha). Sālā Pālī dành cho cư sĩ (Upasika/Upasiko). Người Phật tử phải biết điều đó.

Khi người ta nói Vihāra thì trong tự viện đó phải có hai chánh điện.

Chánh điện Sima Hall dành cho tăng, dành để hành tăng sự (Sangha Kamma): lễ giới đàn, truyền giới, bố tát Uposatha, phát lồ. Phật tử ít có dịp, khó được lên Sima Hall.

Trong giới luật nói rõ, ngay cả Đức Phật và chư tăng không được phép mang dép vào trong Sīmā Hall. Do đó nơi đây bảo mật lắm, cẩn thận lắm. Thường thường có những cục đá để báo ranh giới sima mà Tăng chỉ định sau khi kiết giới. Khuôn viên đó trở thành Thánh địa Tam Bảo (Tiratana bhūmi).

Ngôi chùa mà chưa Kiết giới Sima, không có Sima Hall, thì chưa được gọi là  Tiratana bhūmi (Lãnh địa, khu vực của Tam bảo).

Sālā Pālī là nơi dành cho cư sĩ tới tụng kinh, cúng dường, hay xin giới, ngồi thiền. Người ta gọi là nơi giảng đường, giảng dạy, nơi tu học dành cho cư sĩ. Chư tăng cử tới giảng dạy cho người cư sĩ ở nơi đó học về Tam học (giới, định, tuệ). Do đó, nơi gọi là Vihāra đòi hỏi cần phải có hai điều kiện không thể thiếu được.

Quí Phật tử qua bên Thái Lan thấy dễ dàng lắm. Giống như chùa Mahathat, chùa Mahachulalongkorn, hay Wat Arun là có hai chánh điện. Qua thiền viện Mahasi, chỗ trên lầu, kế đằng trước nhà của ngài Jatila đó là  Sīmā Hall, mà xuống đằng sau có cái nhà hai tầng to cao đó là Sālā Pālī. Cái nhà lát đá cẩm thạch, cửa kiếng, vô lên lầu có một cái nữa đó là Sālā Pālī. Sīmā Hall thì khi nào có người xuất gia thì có ông Phật tử lên dọn dẹp bật đèn bật quạt lên. Còn xuống đằng sau có nhiều tòa nhà thật to đó là Sālā Pālī, nơi đó không kiết giới Sīmā.

Trong một ngôi chùa chỉ kiết giới một ngôi nhà Sīmā thôi chứ không được kiết giới tùm lum. Vì đó là phạm luật. Do đó, vô thiền viện Mahasi thấy có hai chánh điện là như vậy đó. Cái chánh điện mà ở giữa lên lầu đó là Sīmā để cho chư tăng xài Sangha Kamma (tăng sự). Còn ngoài ra không có phận sự, không có việc làm thì có người quản lý khóa cửa lại. Sợ những người không hiểu không biết về Luật bước vô đó mang giày mang dép thì quả báo khổ đến cho người đó rất là nặng.

Sīmā từ khi kiết giới xong thì phía trên trên 16 yojana (do tuần) không có chư thiên nào đi qua được. Ở dưới từ 16 yojana trở xuống dưới không có địa ngục. Nếu có thì phải dời đi chứ không được ở đó. Cho nên quí Phật tử phải nhớ nơi nào có Sīmā hall thì nơi đó có Thánh địa Tam bảo (Tiratana bhūmi), nơi đó hết sức là phước báu, hết sức là oai lực.

Khi Đức Phật ngồi trong khuôn viên Tiratana bhūmi này, Ngài ngồi ở giữa, chư tăng ngồi dọc hai hàng hai bên, thì chư thiên bay ngang phải né dạt qua hai bên, chứ không bay xuyên ngang phía trên được. Khi đang làm lễ tăng sự, chư thiên phải bay né sang hai bên như vậy, chứ nếu bay ngang phía trên đầu thì Tứ đại thiên vương đánh rớt xuống sa địa ngục. Khi có tăng sự thì phải bay né ra hai bên như vậy.  Đó là Luật, không được bay trên đất của Tiratana bhūmi khi có tăng sự (Sangha Kamma). Còn khi đóng cửa khóa lại thì bay qua bay lại không sao.

Chỗ Tiratana bhūmi nếu là chiều dài lớn thì người ta có đặt những cột trụ để báo cho biết nơi đó có ranh giới Sīmā. Thường là 4 hay 6  hay 9 trụ, tùy theo khuôn viên lớn hay nhỏ. Khi Kiết giới Sīmā thì trên mái nhà này không có mái nhà nào cao hơn che lấp qua. Do đó những lần như vậy thì chư tăng lựa chỗ nào khoảng trống rộng lớn không có cái gì chọt vô cái mái nhà kiết giới. Cây phải cắt hết những tán lá phía trên, không tán lá nào nằm trong khuôn viên kiết giới Sīmā. Cho nên, không có ai làm kiết giới Sīmā nào nằm trong chỗ của cây hết. Để khỏi phải cưa. Nhiều khi cưa đụng phải Rukkhadevatā (Thần cây) cũng ngại.

 

Còn Arāma (pagoda/temple) thì là ‘chùa làng’, chùa nhỏ ở những thôn làng mà người dân đi ra đi vô, giống như cái miểu cái đình thôi.

Trong đời Đức Phật có ba ngôi chùa rất to lớn:

1. Jetavana Vihāra (Kỳ Viên Tự)

2. Veluvana  Vihāra (Trúc Lâm Tự)

3. Pubbārama (Đông Phương Tự), đây là khu vực do bà Visākhā làm. Bà tốn 90 triệu đồng tiền vàng do bán đấu giá cái áo mà ngày lễ cưới bà mà người cha bỏ tiền công ra mướn người ta kết hột xoàn trong đó. Khi người giúp việc của bà Visākhā bỏ quên cái áo trên chánh điện của Jetavana, khi trở lại thì đại đức Ānanda đã dọn rồi, bà không dám đụng vô. Qua ngày hôm sau bà xin Đức Phật chỉ dạy. Ngài nói lấy ra đem bán đấu giá, người nào mua được cho người ta thỉnh mua thì không phạm tội; thứ hai là lấy cái tiền bán đấu giá đó làm việc nên làm. Thế là bà xin cúng dường một ngôi chùa, đây là Đông Phương Tự.

 

 Jetavana là do trưởng giả Cấp Cô Độc cúng dường.

Veluvana  là do vua Bình Sa Vương (Bimbisāra /Tần Bà Sa La) cha của vua A-Xà-Thế cúng dường cho Ngài. Trên con đường đi tìm đạo, Đức Phật có hứa với vua Bình Sa Vương là Ngài sẽ trở lại độ cho Vua. Sau khi đắc đạo quả xong Ngài quay trở lại độ cho vua Bình Sa đắc được Sơ đạo, Sơ quả. Xong rồi ông phát tâm cúng dường ngôi chùa cho Đức Phật.

Sau đó Đức Phật lại tiếp tục đi trở về Kapilavatthu để độ hoàng thân quốc thích theo lời thỉnh cầu của Vua cha. Ngài về đó ở lại độ cho hoàng thân quốc thích của Ngài đắc đạo quả xong Ngài ra đi. Khi ra đi được một thời gian thì Pubbārama hình thành vì lúc đó Đức Phật trở về làng của bà Visākhā để độ những người thân bằng quyến thuộc ở đó. Lúc đó bà Visākhā cúng dường Đức Phật Pubbārama. Pubbārama chỉ có một chánh điện thôi. Còn Kỳ Viên và Trúc Lâm đều có hai chánh điện cả. Mang tên là Vihara đều phải thực hiện hai ngôi chánh điện nơi tu viện, thiền viện đó.

Sima Hall hay Sangha Kamma hay Tiratana Bhūmi – lãnh địa của Tam bảo, thánh địa tam bảo.

Sālā Pālī dành cho Upasika những cận sự nam, cận sự nữ tới tu Tam học tại nơi đó.

Khi quí Phật tử là người cư sĩ thì chỉ đến Sālā Pālī mà thôi chứ không được tới Sima Hall nơi Tiratana Bhūmi (thánh địa của Tam Bảo). Thường thường nơi đó dành cho chư tăng.

Nơi Sālā Pālī này thì quí Phật tử có thể cúng giỗ, cầu siêu cha mẹ ông bà; cúng dường, để bát, dâng quê, cúng vật thực cho chư tăng. Nơi đây sau khi cúng dường xong, chiều đó học Phật pháp Đức Phật dạy, hay chư tăng tới giảng dạy.

 

Trên đường quí Phật tử đi các nơi ở Thái Miến thấy ghi chữ Vihara là biết hai chánh điện, đi vô Arama là thấy có một chánh điện. Quý Phật tử hỏi chỗ nào là Sālā Pālī thì quí Phật tử đi tới. Chỗ nào là Sima Hall thì quý Phật tử đừng đi tới. Vô đó là đụng với chư tăng. Nhiều khi quí Phật tử đi tới thấy người ta đang ngủ, quần áo chưa chỉnh tề, kỳ lắm. Sima Hall -- Tiratana Bhūmi đừng tới, để không phạm luật, để không có những lỗi lầm bất ngờ mà không ai chỉ dạy mình. Sống trên đời phải biết để phòng hộ cho mình được an toàn. Nên nhớ chỗ Sima là chỗ cho chư tăng, chỗ Sālā là chỗ cho cư sĩ. Vô mà thấy là Vihara là phải hỏi liền chỗ nào Sima, chỗ nào Sālā. Còn Arama thì chỉ có một, đó là nơi kiết giới Sima đó!!!! Cho nên quí Phật tử phải cẩn thận đó. Chỗ đó có một thôi thì vô phải tháo dép ra.

Do đó phải nhớ, Arama thì tới vô đảnh lễ, vô kiếm Phật cũng được, nhưng mà phải tháo dép ra. Tháo dép ra là ngoài cái hàng rào mốc của Sima; chớ không phải đem vô trong. Nhiều Phật tử còn đem vô trong để góc tường, bỏ bọc ny-lon nữa. Bây giờ thì người ta có ghi rồi. Đều có những trụ mốc ghi chữ ‘SĪMĀ’ hết. Một cái bia có chữ  SĪMĀ, hoa văn xung quanh.

 

Khi kiết giới Sīmā thì không một người quyết định được. Viện chủ đi nữa, cũng không được quyền. Phải trình với Tăng. Tăng cử 8 người tới, theo Luật. Bắt đầu mới chỉ:

-Cái nơi này không có gò mối

-Cái nơi này không có phải nơi nguy hiểm

-Cái nơi này là nơi an toàn.

Rồi các vị Luật sư chỉ định, rồi mới bắt đầu kiết giới Sīmā lên. Chứ không phải một cá nhân.

Sīmā rất là quan trọng. Từ nơi đó quý Phật tử nhìn thấy cái gì đó rất cao quý.

Bên Miến Điện, nơi ngài Kundala, cứ mỗi một tháng hai kỳ Uposatha là phát lồ của chư tăng, lên tụ hội tụng giới bổn  Pāṭimokkha. Pāṭimokkha có hai cách tụng. Nếu như tụng vắn tắt thì tụng Pāṭimokkha những cái mātikā những cái tựa đề của phần Pāṭimokkha, hay là tụng luôn đủ 227 giới của phần Pāṭimokkha, “Suṇātu me…, Suṇātu me…, Suṇātu me…”, (như vầy tôi được nghe, như vầy tôi được nghe…) bắt đầu là kể lại các điều luật, từ 4 Bất cộng trụ (Pārājika), xuống 13 cái Tăng tàn (Sanghādisesa), hai cái Bất định (aniyata) xong xuôi là Ưng phát lồ hay Ưng xả đối trị bắt đầu kể ra hết… Đọc Matika là khi thì giờ eo hẹp, hoặc có người bịnh là phải kết thúc nhanh. Nếu điều kiện cho phép, và có người thuộc lòng Pāṭimokkha thì người đó sẽ đọc hết nguyên bài đủ 227 giới.

Mỗi lần Uposatha xong, sau khi chư tăng tụng kinh xong thì đảnh lễ Phật đảnh lễ ngài Kundala rồi ra về. Ngài Kundala là người ở lại. Trong chỗ Kiết giới Sima của thiền viện Mahasi, có một cái phòng. Ngài Kundala vô đây nghỉ lại một đêm, ở lại với Đức Phật. Hết sức là cao quý, hết sức là thanh tịnh. Sáng hôm sau ngài mới về phòng của ngài. Chỗ Sīmā không có restroom được, phải trong sạch mới được. Do đó, người nào muốn xin ở lại với Đức Phật thì người đó phải ‘bụng tốt’, bụng không hư mới được. Sima là nơi rất thánh, rất linh thiêng. Quý Phật tử muốn cầu nguyện xin chi cũng linh thiêng. Nhưng Phật tử không được tới Sima. 

Friday, March 12, 2021

CÓ NÊN RẢI TRO CỐT XUỐNG SÔNG BIỂN?



Có một số quí Phật tử nhờ sư nói, thì sư xin được nói quí Phật tử nghe. Thời Đức Phật còn tại thế, có hai trường phái cạnh tranh nhau rất rõ ràng: Đức Phật và Lục sư ngoại đạo.

Đối với Đức Phật, thì Ngài đi đến con đường giải thoát. Đức Phật và đệ tử Đức Phật buông bỏ và ra đi, giải thoát, không ai nắm giữ. Đối với Lục sư ngoại đạo, thì đi đến trạng thái cột trói và giữ lấy: Thầy giữ lấy trò, trò phải nằm trong sự cột trói của thầy.
Với đời sống của người Bà-la-môn thì bao nhiêu tội lỗi làm ra, Lục sư ngoại đạo kêu ra sông tắm là hết tội. Sông gì mà người ta kêu là tắm hết tội? Lúc bấy giờ là sông Hằng. Lội ra sông là hết tội. Thậm chí người chết họ cũng dụt ra sông, để cho người đó hết tội. Xác chết đang nằm trôi ở đó, mà họ cũng đứng đó mà tắm.
Nhưng Đức Phật – khi đã gọi là giải thoát rồi mà Ngài dạy người chết phải thiêu. Đức Phật kêu đệ tử Ngài là phải thiêu Như Lai và để lại xương cốt cho người ta thờ. Bà-la-môn kêu dụt sông, tắm sông để rửa sạch tội, nhưng Đức Phật không kêu dụt ra sông, Đức Phật kêu hỏa thiêu và lấy xương cốt Như Lai làm nơi tôn thờ để cho hậu thế sau này còn phải biết con-người-tu-tập, người ta còn biết có Phật.
Cũng như vậy, ông bà cha mẹ chúng ta không thể nào dụt xuống sông xuống biển được. Chúng ta phải hỏa thiêu, chúng ta để tro cốt lại. Con cháu chúng ta có ngày tới chùa, nó mới thấy có ông cha bà mẹ, nó còn lên đốt nhang lễ bái. Còn ta dụt xuống sông xuống biển thì xong hết rồi. Nó không có ngày đi tảo mộ, nó không có ngày tưởng niệm tro cốt ông cha bà mẹ tôn kính của nó. Chúng ta cắt đứt đường đạo đức của nó. Chúng ta diệt con đường đạo đức của nó.
Chúng ta phải kêu nó trở về con đường đạo đức, vì nó còn có tro cốt ông bà cha mẹ của nó, thờ ở nơi đáng được thờ. Đa số quí Phật tử đi tới mức độ của Bà-la-môn. Ngày hôm nay có nhiều Phật tử nói với Sư, Sư rất là đau khổ, họ nói tất cả dụt xuống sông hết. Tro cốt dụt xuống sông, tro cốt dụt xuống ao hồ, tro cốt dụt nơi nào cũng được hết, nhưng con cháu chúng ta không có nơi nào để trở lại nơi tôn thờ, con cháu chúng ta không có nơi nào để trở lại đốt nén hương nhớ ông bà cha mẹ. Chúng không có nơi đáng tôn kính, chúng ta hủy diệt con đường đạo đức của nó. Cắt con đường đạo đức của nó, quí Phật tử đã phạm cái tội lớn.
-Dạ thưa Sư, con thấy ở chùa vẫn thờ cái bức hình thì sao ạ?
Vẫn được, nhưng không chứng minh được bằng cái xương cốt. Nên Đức Phật đâu có để lại cái tượng hình. Đức Phật để lại tro cốt, xá lợi của Ngài, để thờ 5000 năm vẫn chưa hết, nên nay ta có tro cốt. Đại đức Ānanda được 120 tuổi thọ, trở về dòng sông Rohini hai bên là nội ngoại, ngài dùng lửa đốt cháy, chia hai xá lợi cho hai bên thờ. Và hôm nay chúng ta vẫn có xương cốt của đại đức Ānanda. Hôm nay chúng ta vẫn có xương cốt của ngài Mục Kiền Liên, chúng ta vẫn có xương cốt của ngài Xá Lợi Phất. Chúng ta còn tin có ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên. Ba thế hệ nữa, không có xương cốt ông bà chúng ta, con cháu chúng ta nó không có ông bà nào trong đời. Lấy gì chứng minh? Hình ảnh bây giờ là photoshop tạo ra dễ dàng. Không có một cái gì chứng minh là huyết thống, không có một chứng minh con đường đạo đức. Ít ra quí Phật tử cũng phải cho nó trở về ngôi chùa để nó đốt nhang tưởng nhớ Đức Phật, rồi nó mới thấy được ông bà của nó. Quí Phật tử cắt hết nguồn đạo đức của nó là quí Phật tử đang làm một việc rất là tội, quí Phật tử giết cái nền đạo đức của con cháu quí Phật tử.
Do đó, Sư muốn nói với quí Phật tử, chúng ta không phải là Bà-la-môn, chúng ta không phải đem ra sông ta dụt, không phải xuống sông ta tắm ta hết tội mà chúng ta phải tu tập, chúng ta phải trau dồi nền đạo đức, phải nuôi dưỡng nền đạo đức này tiếp nối từ đời này qua đời kia, chứ không chấm dứt được.
Quý Phật tử sẽ thấy có nhiều người nói, tro cốt nhiều quá chùa đâu mà chứa. Sông núi cao xa mà lòng dạ ta muốn đi tìm vẫn tới được. Lòng dạ ta không muốn đi tìm thì ngay trước mắt chúng ta không muốn tới. Tro cốt mà chúng ta muốn giữ thì bao nhiêu xa cách nào ta cũng giữ được. Không phải nói chuyện nhỏ chuyện to, cái lòng Phật tử không muốn nuôi dưỡng cái nền đạo đức đó, quí Phật tử sẽ đổ thừa một cách mau lẹ.
Các Hòa thượng ở bên VN, trước khi chết họ xây tháp. Để khi vừa chết là nhập tháp. Thế thì tại sao các quí thầy ở đây kêu quí Phật tử là tro cốt ông bà dụt sông dụt biển. Các Hòa thượng dựng tháp để cho đàn đệ tử tới đốt nén hương tưởng nhớ Hòa thượng của mình, thầy của mình. Ông bà của mình dụt xuống sông, con cháu nó tìm không thấy, rồi con cháu nó thấy xong rồi, di chúc để lại chúng làm theo, từ nay về sau không còn để ý tro cốt nữa, Quí Phật tử sẽ mất đi cái tiết Thanh Minh tảo mộ hằng năm. Tưởng là làm đơn giản để dễ cho con cháu nhưng quí Phật tử đã bị cái quả báo là cắt đi cái nền đạo đức của nó, cắt mất cái dịp nó về đốt nén hương trước tro cốt ông bà nó, được nghe chư tăng nói pháp nói đạo, để nó biết tri ơn con đường đạo đức của cha mẹ làm, và nó biết làm con đường đạo đức cho chính nó và cho con cháu nó nữa. Dụt sông dụt biển hết là đang đi cái con đường sai với lời dạy của Đức Phật, bởi vì đâu còn tro cốt nào của ông bà mình đâu?
Sư đi qua bên Miến Điện, Sư đi lượm từng xương cốt của ngài Mahasi, Sư đi xin từng xương cốt của ngài Mingun mà họ giữ lấy. Cái tóc của ngài Mingun họ còn giữ lấy, họ đâu có đem dụt sông, họ đâu có đem dụt biển. Mà tại sao con cháu của mình, mình dụt đi để nó không thấy được ông bà của mình. “Bà của con tu dữ lắm nên xương trắng tươi như thế này”… nó còn cái chứng minh. Bây giờ quí Phật tử không có một cái gì mà chứng minh được, đó là quí Phật tử cắt đứt cái nền đạo đức của nó, quí Phật tử chặn đứng con đường nó trở về chùa để đốt nhang lễ Phật, để tưởng nhớ ông bà của nó. Một nén hương một năm một lần cũng không có nữa. Quí Phật tử đã giết chết, đã hại cái nền đạo đức của con cháu mình bởi Lục sư ngoại đạo.
Ta tu theo Phật, quí Phật tử thấy Đức Phật làm điều gì, ta làm theo điều đó. Chư Thanh văn đệ tử Đức Phật làm điều gì ta làm điều đó. Chúng ta không làm điều gì vượt xa truyền thống của Đức Phật được, vì ta là Phật tử, ta phải ý thức giác ngộ.
Ông P.K.Khánh, một học giả đóng góp rất nhiều cho PGNT mà cũng đem ra dụt ở dòng sông ở bên Seattle, Washington, Sư nghe rất là đau khổ. Không có ai khuyến khích, mà nhà sư lại đứng liệng xương cốt của ông P.K.Khánh, Sư rất là đau khổ. Bây giờ P.K.Ngôn, P.K.Nga, P.K.Quyên, ba đứa con của ông Khánh không còn tro cốt giữ lại của ông cha của mình nữa. Cha Sư chết Sư thiêu, giữ xương cốt đó cho Sư; mẹ Sư chết Sư thiêu, giữ xương cốt đó cho Sư. Không được phép dụt, cái đó là của cha mẹ của Sư, là nền đạo đức của Sư, Sư phải tôn kính, Sư phải thờ. Dụt sông là xong, dụt biển là hết. Chấm dứt, cắt đứt hết nền đạo đức của mình. Quí Phật tử có cắn rứt lương tâm, có đi theo lời dạy của Đức Phật không hay quí Phật tử đi theo Lục sư ngoại đạo?

Wednesday, March 10, 2021

KHI ĐÃ CHỌN CON ĐƯỜNG PHẢI ĐI

(Trích bài giảng Vô Minh và Ái Dục)

- Thưa Sư, Sư nói là một đêm Sư ngủ chỉ hai ba tiếng, nhưng theo khoa học nói nếu loài người mà ngủ một ngày không đủ 8 tiếng thì đầu óc mình sẽ mụ mị; ngủ không đủ 8 tiếng một đêm thì mình sanh ra bệnh. Con bối rối không hiểu cái nào là đúng cái nào là sai.
Có hai con đường, tục đế và chân đế, con đường hiệp thế, con đường siêu thế. Khi một Bồ tát nhìn thấy cái thân này là giả tạm thì không dính mắc đeo níu cho lâu dài. Có như thế thì cứ thế mà dùng, hết thời gian thì thôi không dính mắc. Bồ tát xác định mình đi trên con đường như vậy, vượt ngoài khoa học, vượt ngoài hiệp thế của thế gian.
Còn trên con đường hiệp thế, con đường khoa học thì phải nuôi dưỡng. Quí vị thấy có hai loại người dùng xe, dùng xe dung dưỡng thì có xe xài lâu dài; xài quá mà không dung dưỡng thì xe mau hư cũ và liệng. Muốn dùng lâu dài thì chúng ta phải săn sóc, dính mắc, đeo đuổi và lo lắng cho nó mãi. Còn như chúng ta dùng nó khi cần rồi ra đi, không dính mắc thì trạng thái đó là không muốn, không cần lâu dài.
Trên con đường Sư nguyện thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì Sư phải trải qua 20 a-tăng-kỳ, chia ba giai đoạn, nguyện trong tâm 7 a-tăng-kỳ, nói ra lời 9 a-tăng-kỳ và được Phật thọ ký là 4 a-tăng-kỳ. Hôm nay Sư đã nguyện được ra lời. Hạnh nguyện trở thành bậc Chánh Đẳng Giác là sư đã qua được 7 a-tăng-kỳ trong tâm, và 9 a-tăng-kỳ hôm nay nói ra lời, Sư chỉ còn 4 a-tăng-kỳ nữa là Sư thành tựu viên mãn Niyatabodhisatta (Bồ tát vĩnh cửu). Sư đâu có bận tâm lo lắng săn sóc chiếc xe cũ kỹ này mãi. Nếu một người sống trăm năm thì cũng là một kiếp. Một a-tăng-kỳ tính từng kiếp, nếu một kiếp của sư là 35 năm, một kiếp của sư là 27 năm, một kiếp của Sư là 36 năm, nhiều ít cũng là một kiếp thì Sư cộng lại là một trăm năm Sư được ba kiếp, Sư đi nhanh hơn, và thành tựu lẹ hơn. Do đó, Sư dùng những gì Sư đang có để nắm bắt tới thành đạt đạo quả Chánh Đẳng Chánh Giác, chớ sư không nuôi dưỡng kéo dài trong trạng thái trôi lăn mà có khi sự cám dỗ lấn áp lôi ngược trở lại khi trí tuệ chưa đủ sắc bén nếu sư chưa là Niyatabodhisatta.
Xưa kia ngài Xá Lợi Phất nguyện Chánh Đẳng Chánh Giác nhưng ngài chưa tới giai đoạn Niyatabodhisatta. Trong một kiếp ngài nguyện xả thí ba-la-mật của bậc Chánh Đẳng Giác. Chư thiên trên trời xuống thử ngài. Ngài móc mắt ra cho. Họ quăng xuống chà đạp. Ngài không hoan hỉ, ngài cắt bỏ lời nguyện đó. Ngài nguyện Chánh Đẳng Chánh Giác mà hôm nay ngài trở thành chí thượng Thanh văn của Đức Phật mình. Rớt hạnh nguyện. Vì sao? Vì khi chúng ta chưa đủ nghị lực, chưa đủ chánh niệm, chưa đủ tâm niệm chúng ta vẫn rớt như thường. Sư cũng không ngoại lệ. Do đó, sư thúc ép để diệt ái, để chấm dứt dục.
Tuổi thanh xuân Sư chưa có gia đình, với tuổi trẻ đó, nếu ăn no ngủ kỹ khó mà diệt dục. Trên lý tưởng khoa học, Libido tăng trưởng, làm sao chúng ta qua được sự mộng tinh, làm sao qua được việc lu nước đầy thì sẽ tràn. Do đó, trên con đường tu học của Sư không cho phép Sư ăn đồ bổ. Chưa bao giờ Sư ăn chuối. Potassium là cần có, nhưng “ăn chúi là nó nhũi” (cười). Do đó Sư không bây giờ ăn chuối. Bác sĩ nói mỗi ngày ăn một trái táo là xa rời bác sĩ, chưa bao giờ Sư ăn táo. Những cái đó là Sư phải diệt.
Ngài Tịnh Sự thầy của Sư nấu cơm xong, lấy cơm ra bỏ vô cái vải mùng vắt hết, vắt nước ba lần bốn lượt, nước ngọt ra hết, còn lại cái bả mới dùng. Ngủ là lấy cà phê uống. Đói lấy chuối và bánh tráng chấm với sữa sống để mà ăn, để mà diệt. Đó là con đường phải tu tập. Chiến thắng ái dục, sự đòi hỏi của cám dỗ, khó lắm. Tuổi thanh xuân tràn đầy sức sống, sắc đẹp hiện hữu, tài sản của gia đình sư cũng đang có mà Sư gác bỏ ra đi tu tập. Bao nhiêu là sự cám dỗ! Và đến ngày hôm nay, ngồi tại đây chưa phải là xong, 70 tuổi chưa biết mình lành. Do đó, diệt dục là điều quan trọng. Ngủ ít mới chấm dứt được cái dục. Ăn no ngủ kỹ là tăng trưởng dục, không bao giờ thắng được giặc Dục. Chiến thắng ngàn ngàn quân giặc không bằng chiến thắng chính mình, đó là chiến thắng tối thượng, Đức Phật nói rõ như vậy. Đồ ăn là dục, đồ ngủ là ái, ái dục đòi hỏi, ta không chiến thắng được nó sao gọi là giải thoát. Ta chưa giải thoát được làm sao ta nói ta độ chúng sanh vào con đường giải thoát. Ta còn nghiện ngập, ta còn dính mắc, ta còn tham đắm, mà ta nói giải thoát tham sân si thì đó là lý tưởng trên lý thuyết, chỉ nói suông mà thôi, năng thuyết bất năng hành.
Sư đã trao đổi rất nhiều những bậc tôn túc trí giả, các ngài đều phải như vậy cả. Ngài Tịnh Sự khi còn sống nặng 32 ký lô, và khi ngài chết là 28 kg. Sư bồng lên nhẹ bẫng. Khi Sư đưa ngài vô bệnh viện Sài Gòn, bác sĩ Bạch khám nghiệm ra ngài có 6 loại bệnh: ung thư ruột, ung thư bao tử, suy tim nặng, lao phổi, xơ gan và trạng thái gọi là hoại diệt các tế bào máu. Bác sĩ Bạch đưa thuốc cản quang vào ruột già của ngài, để thấy những cái bướu nổi trong bụng nhưng Ngài vẫn là như vậy, một ngày ngài ngủ một tiếng đồng hồ, dưỡng sinh là ngài đem dụt bỏ, ăn thì ngài bỏ chất bổ, chỉ ăn chất bã. Khi buồn ngủ thì cà phê đem tới cho ngài phải đắng để cho ngài thức. Hai mươi chín ngày mới đi cầu một lần. Mỗi một lần đi là phải lavement (thụt tháo), phải móc cho được phân ra. Phân ra như cục sỏi cục sạn chứ không nhuận tươi như mình được. Ngài không bao giờ dùng yogurt để nhuận trường.
Sư ngày hôm nay đâu có dùng yogurt, dùng rau cỏ được. Ruột của sư là bỏ. Bởi vì sư đã dùng elexir hai chai thuốc con rồng nên bây giờ ruột của sư là bỏ hết. Hôm nay sư mà ăn rau cỏ là hoại diệt liền. Do đó quí Phật tử thấy, sắc thân ta đang có đây, đó là chiếc xe cũ kỹ được ràng buộc bởi tứ thần túc mà thôi. Cho nên con đường tu tập nhắm tới là chúng ta phải đạt được. Xưa kia khi Tô Định đến thử thi thố tài bắn cung thì Trưng Trắc dạy Trưng Nhị, mục tiêu ta bắn không phải là những trái táo chín mà mục tiêu ta bắn là phải tới những mục đích mà ta cần phải có. Con đường tu của ta không phải là thành đạt danh xưng, được tán dương cúng dường bởi Phật tử mà con đường tu của ta là phải thành đạt giác ngộ, giải thoát và độ chúng sanh hữu duyên với mình. Sư chưa xong, sư chưa cho phép sư được ngủ ngon. Sư chưa xong, sư chưa cho phép sư được ăn no. Sư chưa xong, sư chưa làm xong nhiệm vụ “áo tu ai đã mặc vào, phải thông công hạnh nhắm vào việc chi, đạo đời hai ngã tình chi, gieo duyên Phật pháp sướng vui niết-bàn.” Con đường đó sư chưa xong sư còn phải làm việc. Trạng thái làm việc ở đây là luôn luôn trăm ngàn cái ái dục lôi kéo chúng ta lại con người phàm phu tục tử của mình nếu chúng ta chưa là bậc thánh nhân. Sư đâu dám khinh suất. Sư đâu dám nói là Sư đã thành. Trong ngày hôm nay sư đọc 6 lần Tam tạng kinh điển. Atthakatha, Nikaya, cũng như là Tika và Nissaya Sư đọc xuyên suốt 2000 cuốn sách trong bộ chú giải của ngài Buddhaghosa và Ledi Sayadaw, sư chưa cho phép sư đã xong. Chưa xong mà trong tay Sư hôm nay 2000 cuốn sách; sư đã dịch xong bằng bilingual tiếng Anh và tiếng Việt, xuyên suốt Tam Tạng Pāḷi tất cả 45 cuốn. Sư chưa xong, vì sao, vì Sư phải đạt tới bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Sư phải trở thành Aniyatabodhisatta và chuyển qua thành Niyatabodhisatta, Bất định Bồ tát đi tới Cố định Bồ tát, lúc đó Sư mới viên mãn thành tựu, lúc đó Sư mới dừng lại được, mà dừng ở đây là chỉ dừng lại trên con đường tu tập chứ chưa dừng lại trên con đường hạnh nguyện độ chúng sanh nữa kìa.
Do đó Sư thưa quí Phật tử, khoa học là đời, đạo là ngược đời. Quí Phật tử phải thấy vậy. Khi ta hành đạo tức là ngược đời. Đời là tham sân si, phải bám giữ nuôi dưỡng lâu dài. Đạo phải là vô tham vô sân vô si mới được. Người nào hành đạo thật sự, người đó phải biết con đường vô tham vô sân vô si. Người nào hành đạo mà mượn đạo tạo đời, người đó xen kẽ vừa tham vừa vô tham, vừa sân vừa vô sân, vừa si vừa vô si chứ chưa chắc họ xuyên suốt con đường giải thoát một cách quyết liệt được đâu.
Sư phải nói rõ ràng, đạo là phải ngược đời, đạo là phải diệt bỏ, đời là phải nuôi dưỡng, theo khoa học là phải ngủ 8 tiếng đồng hồ. Trước khi Sư vào con đường xuất gia, sư đã học năm thứ nhất của trường đại học y khoa. Mẹ của Sư muốn Sư là bác sĩ của trường đại học Montpellier, de Paris, phải là bác sĩ ở Pháp trở về. Còn ba Sư muốn Sư là pont reserche, kỹ sư cầu cống của trường Polytechnic. Khoa học là Sư nghiên cứu đầy đủ, Sư nghiên cứu không thiếu cái chi cả. Ngày hôm nay Sư còn đi sâu hơn về Nutrition những chất dinh dưỡng cần có để nuôi dưỡng cái thân này nữa. Nhưng, con đường đạo quả Sư phải nhắm tới, Sư phải diệt cái xác thân này và ra đi, không nuôi dưỡng xác thân này. Ngày hôm nay quí Phật tử thấy cái thân này của Sư đây chỉ là một hình tướng. Trong cơ thể Sư là tan nát, không phải là bền vững với sắc đẹp đang có này đâu. Lục phủ ngũ tạng của Sư Sư biết mà, Sư ngồi với Phật tử đây chứ hơi của Sư đã cạn kiệt. Có một tháng năm tuần, sư liên tục lên máy bay, xuống máy bay để đi giảng dạy. Không ngừng! Con đường đó là con đường Sư đã chọn lựa, thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Mượn chúng sanh để bổ túc ba-la-mật. Thành tựu ba-la-mật trả nợ lại cho chúng sanh khi sự thành tựu viên mãn Chánh Đẳng Chánh Giác. Do đó con đường phải khắc nghiệt, phải diệt ái dục và vô minh. Phải giải thoát mới được. Sư không có cà phê, không có thuốc lá, không trà không rượu không bia, từ nhỏ tới lớn chưa bao giờ biết đụng tới những cái gì nghiện ngập. Do đó bác sĩ báo cho Sư biết cơ thể trong ngần như vậy dễ bị nhiễm hóa. Tim mạch của Sư đập thiếu nhịp, hơi thở không đủ không khí. Vẫn có như vậy. Trong tay Sư không dưới 5 bác sĩ, kiến thức khoa học y khoa Sư luôn luôn nghiên cứu. Sư có ba vị bác sĩ nổi tiếng nhất Hoa Kỳ, chuyên khoa về thần kinh, chuyên khoa về máu, chuyên giám tuyển sức khỏe các phi hành gia lên không gian. Đó là bác sĩ của sư, nhưng Sư từ chối.
Sư không mong quí Phật tử noi theo con đường tu tập của Sư, Sư biết con đường của Sư đang đi là con đường của bậc Chánh Đẳng Giác, phải mau, không chểnh mãng được, không trễ được. Hai móng chân ngựa phải phóng nhanh trên đất chứ không phải đạp trên lòng đất mà ở trên đời. Sư không muốn như vậy. Ra đi mà. Do đó, một đêm Sư ngủ không đủ. Quí Phật tử nhìn, con mắt của Sư không bao giờ bớt đỏ. Hai tròng mắt Sư lúc nào cũng đỏ. Có nhiều loại thuốc cho Sư, đủ hết, nhưng cứ đỏ thẫm hoài như vậy. Do ngủ không đủ, điều tiết nhiều. Sư ngồi miệt mài trên computer, dịch kinh, trên bàn làm việc của Sư không dưới hai máy vi tính, không dưới 5 bộ Tạng. Một ngày Sư làm việc với 5 bộ Tạng, mỗi sáng Sư đưa ra năm người đánh máy mỗi ngày, Sư phải dịch Pāḷi ra tiếng Việt. VN chúng ta nghèo quá, thiếu thốn dữ lắm. Đồng bào chúng ta chưa có đủ Tam Tạng tiếng Việt Nam đâu. Qua Cam Bốt, Lào, Thái Lan, trong Tam Tạng đều có tiếng quốc ngữ của họ hết. Người VN chúng ta không có. Trong tủ Tam Tạng của chúng ta chưa có tiếng Việt là Sư chưa ngủ được ngon giấc . Do đó lương tâm trỗi dậy, niềm khao khát phục vụ Tam Bảo phải thực hiện, và hạnh nguyện Chánh Đẳng Giác mau sớm thành đạo quả. Sư không cho phép sư dừng lại và để ái dục thúc đẩy: thỏa mãn đi, nghỉ ngơi đi, tận hưởng đi.
Sư sinh ra trong gia đình thượng lưu sung sướng của xã hội Sài Gòn. Sư đi vào con đường tu tập, sư trở thành giáo thọ là được sự cung phụng đầy đủ của Phật tử, cũng như tăng ni học trò thương sư cúng dường cho sư. Sư có hết tất cả. Không riêng chỉ người VN mà những nơi khác cũng vậy. Sư tới Thái Lan, Sư ở chùa vua sãi Wat Bovoranives. Sư qua Miến Điện sư ở chùa lớn nhất của thiền viện Mahasi 610 chi nhánh. Sư là người cầm chìa khóa mở cửa tu viện Ānanda của đại đức Narada. Phật tử nào sống ở Sài Gòn chắc biết có thời gian mỗi chủ nhật ngài giảng tại chùa Xá Lợi. Khi trùng tu cái chùa của đại đức Narada tại Tích Lan ở Colombo, Sư là người VN mà mở cửa khánh thành ngôi chánh điện đó. Nhưng khi người VN còn thiếu thốn về kinh điển thì Sư chưa dừng lại để tận hưởng giấc ngủ của Sư được.
Ái dục cám dỗ mình ghê gớm lắm. Trẻ cũng ái dục, già cũng ái dục như thường. Ái dục đeo ta không phải một kiếp, ái dục không phải chỉ với tuổi trẻ mà buông tha người già đâu…

Tuesday, March 9, 2021

CÁCH XƯNG HÔ KHI TỚI XỨ QUỐC GIÁO


(có thể bạn chưa biết)

Bên Nam Tông không dùng chữ Hòa thượng. Chữ Hòa Thượng là do thời phong kiến xưa của TQ đặt ra. Hòa thượng là vị đó được ngồi ngang hàng với vua. Theo Đức Phật chỉ có hai bậc thôi:
-Thera: trưởng lão
-Mahā Thera: đại trưởng lão
Không có hòa thượng, thượng tọa, đại đức. Bên VN mình thì theo văn hóa của Trung Hoa lâu đời chưa sửa đổi được nên xài cái đó. Mình đi theo hệ Pāḷi cho đúng cho chặt chẽ. Khi vị nhỏ hạ (Thera) trình thưa lên vị lớn (Mahathera) thì gọi vị lớn là Bhante. Vị lớn gọi vị nhỏ là Avūso. Bhante là Mahā Thera. Vị Bhante gọi vị Thera là Avūso.

Bên Miến Điện, vị Avūso được người ta gọi là Ashin; còn Mahathera thì người ta gọi là Sayadaw. Cho nên khi nghe vị nào mà người ta gọi là Sayadaw thì theo tiếng Pāḷi là Maha Thera; xứ quốc giáo như Tích Lan hay Ấn Độ thì người ta gọi là Bhante. Còn Thera thì người ta gọi là Avuso, Ashin.

Ở Miến Điện có hai bậc thôi là Ashin và Sayadaw.

Ở Thái Lan thì có 3 bậc: Acāriya, Luang Pho (tương đương Thera, Ashin) và Luang Pù (tương đương Sayadaw, Maha Thera).
(1) Acāriya: vị giáo thọ. Người VN mình theo Trung Hoa không dịch là mà gọi là A-xà-lê. Người Trung Hoa không đọc được chữ R mà họ đọc thành L do đó Acāriya họ đọc là A-xà-lê; A-xà-lê không có nghĩa gì hết chỉ là thầy giáo thọ, hay thầy giáo, teacher. Acāriya thì tiếng Thái đọc là Ajahn tức là giáo thọ, thầy giáo.
(2) Sau Acāriya là Luang Pho, cũng thuộc Thera
(3) Luang Pù (Mahā Thera= Sayadaw)

Nguyên bản Pāḷi là Mahā Thera > Thera. Khi đi qua những nơi quốc giáo như:
-Thái Lan thì quí vị nhớ: Luang Pù > Luang Pho, Ajahn
- Miến Điện: Sayadaw > Ashin
- Tích Lan, Ấn độ: Bhante > Avuso
Khi đi ra nước ngoài gặp chư tăng phải biết cách xưng hô như vậy với họ, họ sẽ hoan hỷ lắm và biết quí vị là người có được sự uốn nắn.
Khi quí vị đi qua Miến Điện gặp những tỳ kheo trẻ, quí vị gọi họ là Ashin (Đại đức), và Sayadaw là trưởng lão.

Khi gặp những tu nữ (ở Thái Lan) thì gọi là Meiji (đọc là Mèsi). Ajahn thì phổ thông, khi qua Lào, có thể gọi các vị ấy là Ajahn cũng được.

Ví dụ mình cầm tô phở tới xin nước lèo, mình tới kêu Ajahn (a- chan) là vị ấy hiểu liền, múc nước lèo (chan) cho mình liền. 

CẬN TỬ





(Một trích đoạn vui vui và thiết thực)

- Thưa Sư cho con hỏi, con của con ở xa nếu động đất xảy ra, mình phải đi ngay lúc đó, thì dặn nó phải làm sao, lúc đó hỗn loạn lắm, chắc có nhiều ma ở quanh đó, mình phải làm sao?

-Giờ cô nói khi động đất tới là cô sẽ đi luôn, phải vậy không. Cô sẽ cầm theo cái gì mang đi? Muốn giải thoát phải không? Thì nhắm vô cái tâm mình niệm liền. Lúc đó ví dụ như cô bị đất đè, hoặc cô bị té xuống, cô bị gãy tay gãy chân, không ai cứu cô nữa. Đất lúc đó rút xuống. Ngay lúc đó cô niệm: Khổ a, khổ a, khổ a. Niệm cho mạnh vô, nhấn mạnh vô cái đau, cái khổ. Không có tôi ta trong đó. Lúc đó cô thấy cái sắc hoại diệt đang hiện bày mà cô đi giải thoát. Cô không có nói Chúa ơi, Phật ơi, Cha ơi, Mẹ ơi nữa. Cứ khổ à, khổ à, khổ à. Lúc đó đất nó rút cái chân cô, hoặc đất đổ đè cô xuống, cô phải ra đi. Phút giây cuối cùng mà cô ra đi đó, cô phải niệm cái khổ của thân này, sự vô thường sanh diệt của cái thân này, sự vô ngã của nó, cô thấy cái thân này đây nó chết rồi. Cô niệm ba cái tướng đó. Một trong ba cái tướng đó mà cô bắt được dính lúc đó, cô bỏ được cái thân kiến tôi ta trong đó, cô đi theo con đường giải thoát.

-Dạ có thể bị chết ngay chưa cảm thấy gì hết thì sao ạ?

- Chết ngay thì thôi Sư không nói được gì nữa. Sư tưởng còn năm phút thì sư còn cứu được. Rớt xuống sông rớt xuống biển chết luôn canô tới rước không kịp. Nói vậy là tử vong rồi, đi luôn rồi.

- Ý con muốn nói là chết liền, rồi có những con ma ở quanh đó.

-Không có con ma. Cô đừng nói có con ma. Cắt đứt cái tư tưởng con ma đi. Cô phải giải quyết cô trước.

-Dạ nếu như chết rồi có hồn ma.

-Không có hồn, đừng có lo. Sư sẽ trình bày rõ ràng. Cô muốn nghe trong trường hợp tử vong liền phải không?
Khi động đất tới, chết liền phải không, cô niệm giùm Sư: Khổ! Đi liền. Không có tôi, không có ta. Đức Phật nói có ba tướng: vô thường, khổ đau, vô ngã. Cô thấy một tướng thật sự là Khổ nó đến với cô, cướp mạng sống của cô là cô đắc đạo quả liền. Thật sự như vậy đó. Tại cô chưa tin…

-Dạ chứ không phải lúc đó mình phải niệm Phật ạ?

-Niệm Phật làm chi? Chết rồi mà còn niệm Phật nữa?

-Nhưng mà còn linh hồn…?

-Thưa với quí Phật tử, trong PG không có một linh hồn. Nếu đặt ra linh hồn là chúng ta ở trong một trạng thái định kiến và thân kiến. Không có linh hồn. Nếu có hồn linh mà chúng ta làm chuyện ngu si, thì đó không phải là sự linh thiêng. Đứng ở góc độ PG thì không có linh hồn. Mà nếu đã có linh thì phải linh thiêng chứ không bao giờ si mê cả. Do đó, xuyên suốt, nằm sâu trong lời dạy của Đức Phật, không có linh hồn. Phật tử phải có tư tưởng và dựa vào nghiệp báo và năng lực của mình. Đừng dính vào chữ linh hồn trong khi muốn được giải thoát. Giải thoát thì phải có sự khôn ngoan chứ không phải trạng thái si mê. Quí Phật tử phải thấy được ba tướng Vô thường, khổ đau, vô ngã mà thôi- Lúc đó chúng ta sẽ đi một cách mau lẹ nhất bằng cách thấy được thực tướng của nó.

Quí vị nói, “khi tôi chết thì còn có ma.” Tại sao quí Phật tử có con ma? Bởi quí Phật tử có gieo chủng tử với ma, ma sẽ đến với Phật tử. Quí Phật tử có gieo chủng tử với chư thiên, chư thiên sẽ đến với quí Phật tử, gieo chủng tử với bậc thánh tăng, thì thánh nhân sẽ đến với quí Phật tử. Gieo tư tưởng nào chúng ta gặt hái chủng tử đó. Chúng ta phải cải thiện tư tưởng của mình một cách rất là sáng suốt và khôn ngoan. Chúng ta không gieo duyên với ma, chúng ta không chơi với hàng phi nhân thì ma không đến với chúng ta được. Chúng ta là người có tam quy, đức trọng quỷ thần kinh, khi chúng ta đã có tam quy, chúng ta là con Đức Phật, là con một vị vua, ma là hàng phi nhơn ở bốn cõi khổ, nó không đủ để gần ta được. Nhưng chúng ta lại hạ con người ta xuống, con của Đức Phật mà xuống chơi với ma, giỡn chó chó liếm mặt, chúng sẽ liếm mặt quí Phật tử. Do đó quí Phật tử phải gieo chủng tử với người có giới đức, chúng ta sẽ có giới đức, có tam quy, có ngũ giới. Ma quỷ sẽ không thể nào gần quí Phật tử được. Không có giao du với họ, ngày cận tử lâm chung, quí vị còn nghĩ chúng ta có ma giới xung quanh thì ma giới sẽ dẫn quí vị đi bốn đường ác đạo, ngũ thú Ngạ quỷ, A-tu-la và súc sanh, địa ngục.

Còn chúng ta nghĩ chúng ta sẽ sanh về cõi thiên giới, sẽ giải thoát, sẽ về cõi trời, về cõi người hoặc trở về thành bậc thánh nhân, chúng ta đi với tư tưởng đó. Chúng ta phải cải thiện tư tưởng, phải sáng suốt, phải nhạy bén để chọn lọc. Quí Phật tử nghĩ tới ma, là ma có, nghĩ tới quỷ, là quỷ có, nghĩ tới phi nhơn là phi nhơn có, nghĩ tới chư thiên là chư thiên có, nghĩ tới thánh nhân, là thánh nhân có, nghĩ tới giải thoát, là giải thoát có, nghĩ tới luân hồi là chúng ta có luân hồi. Tâm dẫn đầu các pháp, dẫn chúng ta đi tới đó, như bóng với hình.

-Như vậy hàng ngày mình đi theo Phật, tới lúc đó mình đi theo Phật phải không a?

-Không có đi theo Phật, Phật đi rồi ta đi theo không được. Chúng ta không đi theo được, Ngài đi cách đây 2500 năm rồi. Quí Phật tử không cần đi theo. Nhưng quí Phật tử đi theo lời dạy của Đức Phật. Ngài không để lại lối đường nào cho mình đi nhưng Ngài để lời dạy của Ngài để mình theo mình đi, mình phải đi theo lời dạy của Ngài. Lời dạy của Ngài là gì? Thế gian là vô thường, thế gian là khổ đau, thế gian là vô ngã. Chúng ta phải đi theo con đường thấy được vô thường, thấy được khổ đau, thấy được vô ngã. Chính là sự giác ngộ. Chính sự giác ngộ từ ba thực tướng vô thường, khổ, vô ngã, chứng đắc tại đó, chúng ta mới giải thoát được, không có con đường nào khác hơn. Chính cái đó, Đức Phật đã nói, và chúng ta theo đó là chúng ta theo lời dạy của Đức Phật chứ đừng theo Đức Phật. Hiểu hông?

XẢ THIỀN ĐI!


Có những người ngồi thiền, tới lúc đau quá, tê quá chịu không nổi, nghe vị thiền sư cho xả thiền, mừng lắm; cái đó là Hỷ thọ lên rồi đó.

Nhưng nếu còn khoảng 5 phút nữa mới xả thiền, mà tê nhức đau quá đau rồi, còn thiền sư cứ nhắm mắt hoài. Lúc đó tham của mình nó thúc đẩy lên: “Xả thiền đi, xả thiền đi”. Lạy trời lạy Phật ông thiền sư mở mắt giùm đi, mà ổng nhắm hoài. Lúc đó tâm mình cầu nguyện khấn vái, “Trời ơi, lạy trời thiền sư mở mắt giùm cho con đi, con gần chết rồi, gần chết rồi.”

Khi thiền sư mở mắt ra: “Do quả phước báu này xin nguyện làm nhân đến đạo quả niết-bàn...” Lúc đó mình mừng hông? Mừng! Hồi nãy thì tâm mình đang khó chịu mình sân, còn lúc mình muốn xả thiền mình xả được mình mừng thì lúc đó mình hỷ thọ.

Lúc đó Phật tử phải niệm liền cái tâm mình ở đó, không có bỏ qua cái tâm đó. Cái tâm mình lúc đó là Tâm tham Câu hành hỷ. Chớ không phải nghe xả thiền một cái mình mừng liền. Phải niệm, tham! Còn lúc chưa được xả thiền bực bội phải niệm: “Sân đó! sân đó!”. Phải niệm hết, chứ không là bài học chúng ta chưa làm xong ta chưa được nghỉ. Phải xong ta mới nghỉ. Phút chót chúng ta cũngphải niệm, chứ không phải xả ra là buông ra liền, lúc đó là quí Phật tử mất đi một cơ hội kiểm soát cái tâm của mình đó. Cái đó cũng phải niệm: Xả thọ! hỷ thọ! hoan hỷ! không hoan hỷ! thích thú! và không thích thú! bực bội! hay dính mắc! Lúc nào chúng ta cũng phải niệm cho bằng được cái tâm đó, không bỏ qua một sát-na tâm không bỏ qua một phút giây tâm thức nào cả. Đó gọi là có chánh niệm từ đầu, khúc giữa và khúc cuối.

Còn nếu quí Phật tử có chánh niệm khúc đầu, khúc giữa mà khúc cuối quí Phật tử bỏ mất là quí Phật tử thiếu chánh niệm liền. Nếu thiếu chánh niệm như vậy đó lâu dần vài tháng quen. Trước tiên ta tạo thói quen, sau thói quen tạo lại ta. Mà thường thường, pháp đến với mình không báo trước là một, đánh lén là hai, thứ ba là nó đến lúc nào chúng ta không biết gì cả. Người hành giả có sự khéo tu tập là luôn như người lính canh phòng ở biên giới không để phút giây sơ hở nào để địch đột nhập vào. Luôn luôn phải nhắc nhở tâm thức của mình là như vậy đó. Chứ để sơ hở một phút xen vô lúc đó mà quí Phật tử không niệm đó lâu ngày dài tháng, những phút giây đó, là đạo quả mà quí Phật tử mất cơ hội đó!
Như Sadi Sukha, một ngày chỉ ăn ngọ, tới giờ ăn cơm ngọ, ngài Xá Lợi Phất đã đem vật thực về tới phòng rồi. Mà Đức Phật nói, đạo quả của Sukha đã tới, nếu như gõ cửa để cho Sukha ra nhận vật thực thì coi như mất cái A-la-hán liền. Do đó Ngài phải để yên, chặn Xá Lợi Phất lại, nói chuyện với Xá Lợi Phất để cho Sadi Sukha tới đạo quả.

Như mình lúc đó, ủa tới giờ ngọ mà sao giờ chưa ai đem cơm tới cho mình, thì mình đi…, đi hiệp thế rồi! Mình phải đi tiếp, nếu không quen là lúc đó mình trở ra hiệp thế liền. Nếu mình quen, mình cứ chánh niệm những phút giây cuối này, là lúc đó mình đi tới siêu thế được đó. Vì sao? Vì mình khắc phục những cái tâm hiệp thế đang thúc đẩy, đòi hỏi mình ngay lúc đó đó là mình qua được ngay giai đoạn siêu thế chớ gì nữa! Lúc đó nó lòi ra bản chất của nó, nó hiển lộ ngay tập tính, nó hiện bày ra cái thói quen, tập khí, tâm tánh của mình tại nơi đó. Chứ thường thường nó không hiện bày đâu. Bốn mươi lăm phút đầu quí Phật tử không thấy nó hiện bày đâu, 50 bắt đầu hiện rồi đó, 55 bắt đầu dạng lên rồi đó, 57 là bắt đầu hiện rõ rồi đó. Vậy mà nghe nói xả thiền trời ơi mừng quá. Thế là hiệp thế!!!!

Niệm là điều quan trọng, nhưng niệm không phải là điều chính yếu. Sư khẳng định với quí Phật tử như vậy. Nếu quí Phật tử không thấy được cấu trúc đó thì quí Phật tử sẽ lầm ghê lắm. Một số hành giả đi vào con đường hành thiền, họ luôn luôn đề cao vấn đề chánh niệm, là sammasati, lúc nào cũng chánh niệm chánh niệm chánh niệm, nhưng nhìn thật rõ vào chân đế, là Đức Phật Ngài nói vẹt màn vô minh; vẹt màn vô minh thì không phải là chánh niệm mà khi vẹt màn vô minh, minh sanh thì vô minh diệt, đó là trí tuệ. Cho nên, quí Phật tử sẽ thấy, chánh niệm là điều cần thiết, nhưng nó không phải là điều chánh yếu. Trí tuệ phối hợp với niệm mới là điều cần thiết. Điều đó là điều chánh yếu.

Do đó, các hành giả mình cứ giữ chánh niệm giữ chánh niệm như thế thì mình chỉ là thiền Chỉ chứ không phải là thiền Quán. Nếu là thiền Quán thì lấy trí tuệ nhìn thấy bản chất sanh diệt, bản chất của pháp đang hiện bày. Lúc đó mới là thiền Quán. Mà thiền Quán không phải ở nơi chánh niệm, mà phải là Trí tuệ phối hợp với Chánh niệm.

Nếu như quý Phật tử đi tới phút chót cuối cùng xả thiền vẫn là chánh niệm, là ngay tại đó quí Phật tử vẫn đang đi thiền Chỉ và giữ tới đó là hiện bày một tâm Tham chứ không phải là một tâm Thiện. (Như vậy là) mình tu ngồi thiền không phải là Thiện mà lúc đó là Tham, dính mắc.

Trí tuệ là buông bỏ, mà mình đeo mình giữ như vậy là bất thiện, là Tham.

Học Abhidhamma là lột vỏ cái tâm thức của mình ra, chứ không phải đứng ở ngoài mà thêu dệt cái tâm mình như thế nào. Không được, phải thấy rõ được sự thật. Ngay khi đó là tâm thiện hay bất thiện ta phải nắm liền. Nếu quí Phật tử không nắm cái đó, thì quí Phật tử cứ trôi lăn dưới trạng thái là hình thức trong tu tập nhưng không phân biệt được tâm thức loại nào, do vậy quí Phật tử không tích dần những gì cần thiết, và lượm những gì cần thiết, chúng ta sai lầm mê chấp, đi hoài mà không có kết quả là như vậy.

Khi quí Phật tử ngồi thiền, quí Phật tử muốn cái gì khởi sanh lên, quí Phật tử nói: Muốn à, là Tham! Mình thấy thích là Hỷ. Mà không thích, trạng thái mệt mỏi không muốn, là Xả. Đọc niệm liền: -Tham à, tham à, tham à; (hoặc: Nghỉ à, nghỉ à, nghỉ à - không muốn hành nữa mà muốn nghỉ; Xả à, xả à, xả à … )

Khi quí Phật tử niệm ngay cái đó, cái tham biến mất; là quí Phật tử đang có cái thiện, mất cái bất thiện. Còn nếu quí Phật tử đeo đuổi theo nó nhìn ngó nó hoài, là quí Phật tử đang đua theo bất thiện. Như vậy làm sao quí Phật tử có đạo quả?
#SưSánNhiên 

HỌC CÂY TRE


Ngài Tịnh Sự nói với sư:
-Tôi có hai cách dạy, ông cho tôi biết ông chọn cái nào. Một là học cách dạy của cây tre, hai là học cách dạy của cây mít.

Nhà nông mà. Sư hỏi:

- Bạch ngài, cây tre như thế nào, cây mít như thế nào. Hồi xưa giờ con chưa trồng tre chưa trồng mít.
Tại vì sư dân thành phố, phải biết người biết ta chớ. Trồng cây tre là cây tre trồng xuống rồi nó mọc tuốt lên cao mới ra tán. Nó lên hết mức rồi mới ra tán. Còn cây mít là lùm lùm, ba năm vẫn lùn, cái tán bự ra. Lâu lắm. Mười năm mới thấy nó lên cao. Còn cây tre ba tháng nó lên tuốt, 6 tháng 7 tháng nó ra tán rộng ra.

Sư nói, con học cây tre, không học cây mít.

Còn quý Phật tử thì học cây mít.

-Dạ học cây tre.

-Tre hả? Không dám tre đâu!

MẤT KHÔN HÓA GIẬN


Khi sân lên là mình mê mờ không còn sáng suốt gì hết nên người ta nói "giận quá mất khôn".
Nhưng thực ra là "mất khôn hóa giận" chứ không có phải giận quá mất khôn.

Mình mà khôn ngoan thì mình không có giận; từ từ mình giải quyết, từ từ mình giải đáp chứ không có dùng sân si mà giải đáp.

Đức Phật dạy, Sân từ đâu có? Sân phải có từ Si. Si nó làm cho mình Sân chứ Sân không làm cho mình Si.

Sống khôn thác thiêng

“Những gia đình nào mà có con cái hiếu thảo thì những gia đình đó được coi là gia đình [có] Phạm thiên”. Đó là câu trong bài kinh "Ngan...